CHƯƠNG 1: GIẢI QUYÉT TRANH CHẤP TRONG THANH TOÁN L/C TRÊN CO SỞ UCP 600 VÀ ISBP 745 1. KHÁI QUÁT VÈ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TÉ BẰNG L/C 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của phương thức thanh toán quốc tế bằng L/C /.về phương thức thanh toán quốc tế bằng L/C “Tín dụng chứng từ là một thỏa thuận hất kỳ, cho dù được mô tả hay gọi tên như thế nào thể hiện một cam kết chắc chắn và không hủy ngang của ngân hàng phát hành về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp (Theo điêu 2 - UCP600) Như vậy nhà XK được đảm bảo thanh toán bởi ngân hàng phát hành nếu như xuất trình được bộ chứng từ phù hợp; nhà NK được đảm bảo không phải thanh toán khi chưa nhận được bộ chứng từ phù họp. Đây là điểm vượt trội của phương thức này so với những phương thức thanh toán khác.
Đặc điểm của phương thức thanh toán quốc tế bằng L/C Trong phương thức giao dịch L/C có ba môi quan hệ hợp đông được hình thành. Hop đồng 1: Hợp đồng giữa người mua và người bán được thể hiện bằng các quy định trong hợp đồng mua bán, bao gồm các chi tiết liên quan đến số lượng và chất lượng hàng hóa, cơ sở giá cả, người gửi hàng và ngày dự kiến hàng tới đích.ngoài ra trong hợp đồng mua bán có quy định phương thức thanh toán, nêu hai bên đông ý lựa chọn là phương thức L/C thì nó cũng phải được thể hiện trong hợp đồng mua bán. I ion đồng 2 : Là hợp đồng giữa nhà nhập khẩu (NK) và ngân hàng phát hành. Hop đồng 3 : Là hợp đồng giữa ngân hàng phát hành và nhà xuât khâu (XK).
Môi quan hệ này là hệ quả của hai mối quan hệ trên, nhưng lại là một nghĩa vụ hợp đông độc lập của ngân hàng phát hành, thể hiện cam kết của ngân hàng phát hành đổi với nhà XK khi nhà XK xuất trình được bộ chứng từ hợp lệ. L/C có năm đặc điểm chính sau đây: 7 L/C là hợp đồng kinh tế hai bên: L/C là hợp đồng kinh tế giữa ngân hàng phát hành và nhà xuất khâu. L/C độc lập với hợp đồng cơ sở hàng hóa: Vê bản chât, L/C là một giao dịch hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương hoặc hợp đồng khác mà họp đồng này là cơ sở để hình thành giao dịch L/C. 1rong mọi trường hợp, ngân hàng phát hanh không cần quan tâm cũng như không cần ràng buộc tới hợp đồng như vậy, ngay cả khi L/C có dẫn chiếu tới hợp đồng này.
L/C giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ: NHPH chịu trách nhiệm thanh toán cho nhà XK nêu nhà XK xuât trình được bộ chứng tư phù hợp. Như vậy, các ngân hàng chỉ có trách nhiệm kiểm tra việc xuất trình đê quyêt định xem trên bề mặt chứng từ có tạo thành một xuất trình phù họp hay không mà không cần kiểm tra hàng hóa có thật sự được chuyển đi hay không hay chất lượng hàng hóa có đúng với những gì ghi trên chứng từ hay không. Như vậy, bộ chứng từ xuất trình trong giao dịch L/C có ý nghĩa rât lớn đôi với nhà XK vì nó quyêt đinh việc nhà XK có được ngân hàng thanh toán hay không. Một bộ chứng từ được coi là phù hợp nếu nó phù hợp với những quy định trong L/C, phù hợp với các điêu khoản của UCP 600 và phù hợp với tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Banking Practice for the Examination ot Documents Under Documentary Credits - ISBP).
L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ: Người xuất khẩu muốn đươc thanh toán thì phải xuất trình được bộ chứng từ phù hợp, tuân thủ chặt chẽ các điêu kiện và điều khoản của L/C như về sô loại, sô lượng môi loại, chât lượng hàng hóa.và nội dung của chứng từ phải đáp ứng được chức năng của môi chứng từ yêu câu. L/C là công cự thanh toán, phòng ngừa rủi ro nhưng đồng thời cũng là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo: Thứ nhất, xét về phương diện là phương tiện thanh toán và phòng ngừa rủi ro thì L/C có những ưu diêm vượt trội so với các phương thức thanh toán khác. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của thương mại quôc tê, do 8 những diễn biến của thị trường như giá cả biến động, việc tiêu thụ hàng hóa trở nên khó khăn.thì L/C có thể trở thành công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo. Cũng từ bản chất L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ dựa vào chứng từ chứ không xem xét tính chất bên trong của chứng từ mà không ít các tranh chấp đã xảy ra xung quanh đặc điểm tuân thủ chặt chẽ của chứng từ.
Ngoài ra, do tính chất độc lập của chứng từ với hợp đồng thương mại mà nhà XK có the lừa đảo, không giao hàng hoặc giao hàng không đúng tiêu chuẩn mà vẫn xuất trình được bộ chứng từ phù hợp để yêu cầu ngân hàng phát hành thanh toán. Trong trường hợp này, L/C vô tình đã trở thành công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo. Vai trò của phương thức thanh toán quốc tế bằng L/C a. Đối với người xuất khẩu Phương thức tín dụng chứng từ độc lập với hợp đồng mua bán và hợp đồng cơ sở phát sinh ra nó.
Vì thế, khi nhà XK đã giao hàng và tập họp được bộ chứng từ phù hợp với L/C, việc thanh toán là chắc chắn. Nhà XK không phải chịu rủi ro nhà NK mất khả năng thanh toán hay do diễn biến thị trường không có lợi mà nhà NK muôn trì hoãn hay từ chối nhận hàng và thanh toán tiền gây bất lợi cho nhà XK nhưng với phương thức tín dụng chứng từ thì nhà XK vẫn chắc chắn nhận được tiền của ngân hàng phát hành. Vì vậy, việc nhà XK có được thanh toán hay không phụ thuộc vào việc nhà XK có xuất trình được bộ chứng từ phù hợp hay không. Đối với nhà nhập khau Khi nhà XK và nhà NK chưa có sự tín nhiệm lẫn nhau, chắc chắn một điều là nhà XK không muốn giao hàng trước khi nhận được tiền.
Tất nhiên, nhà NK cũng không hề muốn trả tiền khi chưa nhận được hàng vì như thế nhà XK có the không giao hàng hoặc giao hàng không giống như thóa thuận. Bằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng sẽ kiểm tra bộ chứng từ đó có phủ hợp với thông lệ quôc tế và luật pháp của từng nước hay không, đồng thời nhà NK cũng kiểm soát được hàng hóa. Đối với ngân hàng 9 Do L/C độc lập với hợp đồng ngoại thương được ký kết giữa các bên, các ngân hàng tham gia phương thức T DC 1 với tư cách là bên cung câp dich vụ T I QT, VI vạy, ngân hàng không bị ràng buộc bởi các tranh châp phát sinh xảy ra giữa nhà XK va nhà NK sau khi nhà NK đã thanh toán tiền cho ngân hàng. Các quy định ký quỹ mở L/C giúp ngân hàng có môt nguồn vốn đáng kể đê sử dụng cho các hoạt động tín dụng cho vay của ngân hàng như cho vay XK, bảo lãnh, xác nhận.đông thời, ngân hàng có một nguồn thu từ việc thu phí mở, sửa đôi, phí thông báo, xác nhạn L/C.Cac khoản phí này tạo nguôn thu đáng kê cho ngân hàng.
Uu diêm lơn nhat ma phương thức thanh toán tín dụng chứng từ mang lại cho ngân hàng là ngân hàng có thê mở rộng và củng cô môi quan hệ với các ngân hàng nước ngoài, tư đo, co cơ họi phat triển quảng bá, mở rộng mạng lưới trên toàn câu. Đông thời, ngân hang co the đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ thông qua các môi quan hệ, trao đổi kinh nghiệm và thông qua việc cạnh tranh với hệ thống ngàn hàng trên thế giới để không ngừng hoàn thiện, theo kịp sự phát triên chung, nâng cao uy tín cung như tầm quan trọng trên thị trường tài chính. Quy trình nghiệp vụ thanh toán quốc tế bằng L/C a. Chủ thể tham gia Trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, bắt buộc phải có sự tham gia của ít nhất bốn chủ thể.
Người yêu cầu mở L/C (Applicant fo r L/C)'. Là bên mà L/C được phat hanh theo yêu cầu của họ. Trong thương mại quốc tế, người yêu câu là nhà NK, yêu câu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C theo những thỏa thuận trong họp đồng với nhà XK. Người thụ hưởng L/C (Beneficiary o f L/C): Là bên được hưởng sô tiên thanh toán hay hối phiếu đã được chấp nhận thanh toán theo L/C.
Thông thường, người thụ hưởng thường là nhà XK. Ngân hàng phát hành (Issuing bank)’. Là ngân hàng thực hiện phát hành L/C theo đơn của người yêu cầu. Ngân hàng phát hành thường do hai bên mua bán thoa thuạn 10 trước, nếu không, nhà NK được phép tự lựa chọn ngân hàng phát hành.
Ngân hàng phát hành còn được gọi là ngân hàng mở L/C. Ngân hàng thông báo (NHTB - Advising bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy quyền thông báo L/C cho người thụ hưởng và ngân hàng thông báo thường là ngân hàng tại nước nhà XK. Ngoài ra, trong'phương thức thanh toán tín dụng chứng từ còn có thê có thêm một số bên tùy từng trường hợp. Ngân hàng xác nhận (NHXN): Là ngân hàng bô sung sự xác nhận của mình vào L/C theo yêu cầu hoặc sự ủy quyền của ngân hàng phát hành.
Ngân hàng được chỉ định (NHđCĐ)'. Là ngân hàng mà tại đó L/C có giá tri thanh toán hoặc chiết khấu. Ngân hàng chuyển nhượng: Trong trường hợp L/C được phép chuyên nhượng thì ngân hàng chuyển nhượng là ngân hàng đứng ra làm thủ tục chuyên nhượng L/C từ người thụ hưởng thứ nhất sang người thụ hưởng thứ hai theo yêu cầu của người thụ hưởng thứ nhất. Ngân hàng hoàn trả: Là ngân hàng được ngân hàng phát hành ủy quyền hoàn trả cho ngân hàng được chỉ định khi nhận được bộ chứng từ xuất trình là phù hợp.
Trong thực tể, trong phương thức thanh toán L/C không nhất thiết phải có đây đủ tất cả những ngân hàng trên cùng tham gia mà tùy từng trường hợp cụ thế có thê xác định các bên tham gia. Quy trình nghiệp vụ 11 Sơ đồ 1.1: Quy trình nghiệp vụ L/C trong trường họp thanh toán tại NHđCĐ Bước 1: Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanh toán theo phương thức L/C. Bước 2: Căn cứ các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, Applicant (thường là nhà NK) làm đơn gửi đến ngân hàng phục vụ mình, yêu cầu ngân hàng phát hành một L/C cho Beneficary (thường là nhà XK) hưởng.