Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ 1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về cán bộ Trong suốt cuộc đời cách mạng, Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng vấn đề cán bộ. Trong tư tưởng của Người, vấn đề cán bộ thực chất là một hệ vấn đề, bao quát một cách rộng rãi nhiều vấn đề như định danh cán bộ, xác định vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, đào tạo và huấn luyện cán bộ, đánh giá và sử dụng cán bộ, đãi ngộ cán bộ.
Các vấn đề trên có mối quan hệ với nhau, chẳng hạn: trước khi nói đến vấn đề vì sao phải đào tạo cán bộ, nội dung đào tạo cán bộ là gì, phương pháp đào tạo cán bộ như thế nào, thì cần phải làm rõ vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng; và trước khi làm rõ vai trò của cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, thì cần phải định danh cho được cán bộ là gì. Đó là lôgic tư tưởng và lôgic ấy thể hiện rất rõ ở Hồ Chí Minh. Đối với vấn đề định danh cán bộ, Hồ Chí Minh đã có những quan niệm độc đáo. Phân tích các tác phẩm của Hồ Chí Minh, chúng tôi đã chọn lọc một số luận điểm tiêu biểu, thể hiện rõ quan niệm của Người về cán bộ, cụ thể là: - “Cán bộ là tướng của đoàn thể.
Cán bộ làm đúng kế hoạch của đoàn thể, có mưu trí, được quần chúng tin yêu kiên quyết, gan góc, giữ đúng kỷ luật, biết làm cho dân chúng cùng đoàn thể sống chết mà không sợ nguy hiểm như thế mới là tướng giỏi của đoàn thể. Như thế thì cách mạng nhất định chóng thành công” [25, tr. “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt.
Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [28, tr. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái gốc của mọi công việc” [28, tr.
- “Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể” [28, tr. Phân tích các luận điểm nói trên, có thể thấy rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ được quan niệm là: Thứ nhất, “cán bộ là tướng của đoàn thể”. Cán bộ là những người giữ trọng trách nhất định trong một tổ chức, chẳng hạn trong hệ thống cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước. Họ được trao quyền và có trách nhiệm xử lý công việc trong phạm vi chức trách được giao.
Họ phải là những người có ý thức tổ chức kỷ luật, có trí tuệ và năng lực, có bản lĩnh và quyết tâm, có năng lực vận động và tổ chức quần chúng, được quần chúng tín nhiệm và và một lòng đi theo. Cán bộ giỏi là điều kiện có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Thứ hai, “cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng quan điểm hệ thống cấu trúc chức năng để xem xét tổ chức và xã hội.
Với quan điểm như thế, cán bộ được coi là một khâu có vai trò rất quan trọng - khâu liên kết các bộ phận của hệ thống. Các bộ phận có tốt đến mấy, động cơ có khỏe đến mấy, nhưng nếu không có dây chuyền tốt thì cỗ máy vẫn không thể vận hành được. Tính chất “dây chuyền” của cán bộ thể hiện trên hai phương diện: Một mặt, cán bộ là những người đưa đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào trong quần chúng, trong xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật ấy; Mặt khác, cán bộ là những người đem “tình hình của dân chúng” báo cáo cho Đảng và Nhà nước, tức là nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nắm bắt tình hình đời sống chính trị - xã hội, phản hồi trở lại Đảng và Nhà nước, trên cơ sở đó Đảng và Nhà nước điều chỉnh đường lối, chính sách, pháp luật. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba, “cán bộ là tiền vốn của đoàn thể”.
Trong lý thuyết phát triển xã hội hiện đại, con người được coi là một loại vốn, một loại “tư bản”. Có cả một trường phái lý thuyết với nhiều đại biểu là các nhà kinh tế từng đoạt giải Nobel nhờ đề xuất và luận giải một cách sâu sắc về “vốn con người”, “tư bản con người”, về vai trò của nguồn lực đặc biệt này trong tổ chức doanh nghiệp cũng như trong xã hội. Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người sớm nhất sử dụng khái niệm “vốn con người”. Ngay từ những ngày đầu của công cuộc kiến thiết đất nước sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã nêu lên quan niệm coi con người là một nguồn “vốn” bên cạnh khoa học kỹ thuật và tiền bạc.
Ở đây, chúng ta lại thấy Hồ Chí Minh nhấn mạnh một loại vốn đặc biệt quan trọng của tổ chức, của Đảng và Nhà nước, và của chính nhân dân: “vốn cán bộ”. Đã coi cán bộ là tiền vốn thì phải làm sao cho tiền vốn ngày càng nhiều, ngày càng có giá trị - tức là phải coi trọng công tác phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ; lại còn phải tính toán, sử dụng tiền vốn một các hợp lý và có hiệu quả - tức là phải coi trọng công tác sử dụng cán bộ. Với quan niệm như thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh vai trò của cán bộ, mà còn nhấn mạnh đến trách nhiệm của tổ chức trong công tác cán bộ. Thứ tư, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”.
Một cách hợp logic, từ ba quan niệm trên, chúng ta hoàn toàn hiểu được vì sao Hồ Chí Minh lại coi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc” và “công tác cán bộ là công tác gốc” của Đảng và Nhà nước. Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh vể cán bộ, song qua những luận điểm của Người về cán bộ, trong đó có mấy luận điểm tiêu biểu mà chúng tôi đã dẫn ra ở trên, có thể thấy rằng, quan niệm của Hồ Chí Minh về cán bộ có giá trị lý luận lý luận và thực tiễn to lớn trong phân tích hiện thực, định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn về cán bộ. Người không những chỉ ra cán bộ là ai (xét trên phương diện chức năng của họ trong tổ chức và trong xã hội), mà còn chỉ ra họ cần có những năng lực gì 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (thực) để xứng với tên gọi cán bộ (danh), và tổ chức cũng như xã hội cần phải có thái độ, chính sách như thế nào đối với cán bộ. Nếu so sánh với một số quan niệm về cán bộ đang được sử dụng hiện nay, chúng ta sẽ càng thấy rõ hơn giá trị trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Theo từ điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là: 1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước (như cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị). Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ [5, tr. Theo gốc trong tiếng Pháp và tiếng Anh từ cán bộ (Cadre) có hai nghĩa.
Một là cái khung, sườn và hai là lực lượng nòng cốt. Theo từ điển Hành chính: “Cán bộ là người có đủ các điều kiện được tuyển dụng vào làm việc ở các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế do nhà nước thành lập, tổ chức lực lượng vũ trang: trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên. Từ cán bộ được sử dụng rộng rãi trong các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây (cán bộ, công nhân). Cán bộ công chức khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được pháp luật và nhân dân bảo vệ” [60, tr.
Theo cách hiểu thông thường trong đời sống xã hội: Cán bộ được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, quân đội, được hưởng lương hoặc phụ cấp. Hiện nay, theo pháp luật hiện hành đồng thời tồn tại ba khái niệm “cán bộ”. “công chức”, “viên chức”. “công chức”, “viên chức” mà pháp luật nói chung và các văn bản luật hành chính nói riêng điều chỉnh, không chỉ làm việc trong bộ máy nhà nước, mà cả trong các cơ quan của các tổ chức xã hội (bao gồm cả tổ chức chính trị - Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp).
Đây là một nét đặc thù xuất phát từ chế độ chính trị của nước ta. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76/SL ban hành quy chế công chức Việt Nam. Theo Sắc lệnh này “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển, bổ nhiệm giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức”. Nhưng do hoàn cảnh chiến tranh, đặc biệt từ năm 1954, Nhà nước ta thực hiện chế độ cán bộ nên Sắc lệnh này hầu như không được áp dụng, dù không bị văn bản pháp luật nào bãi bỏ.
Trong các văn bản pháp lý thời kỳ đó, thuật ngữ được sử dụng là “cán bộ, viên chức” - những người trong biên chế, làm việc trong các cơ quan Nhà nước từ trung ương đến địa phương, trong các cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, trong các doanh nghiệp nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân. Cán bộ, viên chức được hình thành từ nhiều nguồn phong phú như từ bầu cử, tuyển dụng, đề bạt, phân công khi tốt nghiệp các cấp học, bậc học, nhưng do không làm rõ được đặc điểm nghề nghiệp, tính chất công việc, trình độ chuyên môn nên không có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, bố trí công tác, đánh giá và các chế độ khác cho cán bộ, viên chức. Đến ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức Nhà nước.