CHƯƠNG 1- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUY TRÌNH VNEN TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở LỚP 7 1.1- Một số khái niệm a- Quy trình bài học Trong Giáo dục học, khái niệm “quá trình dạy học” (Tiếng Anh: Teaching process) được sử dụng rất phổ biến. Cụm từ này cũng có thể được dùng theo nghĩa hẹp hơn để chỉ “quy trình dạy học”. Với từng bài học cụ thể, việc sắp xếp cấu trúc nội dung và các thao tác tiến hành còn được gọi là “quy trình bài học”. Trong Lí luận dạy học, có người gọi đây là “lô-gic bài học” [9, tr.
Trong sách GV Ngữ văn 7, đây là mục III của mỗi bài học, gọi là “tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học” [14, tr. Để hiểu rõ hơn khái niệm này, cần đi vào khảo cứu một số từ điển. Trong từ điển tiếng Việt, “quy trình” có nghĩa là “chương trình đã được quy định” [19]. Trong từ điển Hán Việt, “quy” được hiểu là: khuôn phép, lệ [18- tr.548]; còn “trình” được giải thích là: 1) khuôn phép (VD: chương trình); 2) kỳ hẹn (VD: khóa trình) v.
Như vậy, “quy trình” có thể được hiểu là một cung đoạn của quá trình dạy học được quy định về mặt tổ chức, được cấu trúc một cách khoa học. “Quy trình bài học” là việc tổ chức, sắp xếp trong phạm vi một bài học những kiến thức, kỹ năng hoặc những hoạt động, thao tác của thầy và trò. GS Nguyễn Thanh Hùng trong cuốn Kĩ năng đọc hiểu văn gọi đây là “mô hình” hay “thiết kế giờ dạy” [10, tr. Đây dường như chỉ là những từ ngữ được sử dụng thông thường, không có ý dùng như thuật ngữ.
GS Phan Trọng Luận trong Phương pháp dạy học văn tập 1 đã sử dụng những cách gọi khác nhau, mang tính thuật ngữ, như: “cấu tạo một giờ dạy 6 z học” [11, tr. 260], “mô hình thiết kế bài học”, “bản thiết kế giờ học” v. Tác giả cho rằng: “Bản thiết kế giờ học không phải là đề cương nội dung cần truyền thụ qua lời diễn giải của GV. Nội dung cơ bản chính yếu của của một giờ học tác phẩm văn chương bao gồm hai thành tố hữu cơ.
Một là, những tình huống được đặt ra từ nội dung của tác phẩm phù hợp với trình độ và đặc điểm tiếp nhận văn chương của lớp học. Hai là, song song, ứng hợp với nội dung trên là một hệ thống thao tác được GV sắp xếp hợp lí, nhằm từng bước hướng dẫn HS tự xử lí để tiếp cận và chiếm lĩnh tác phẩm một cách sáng tạo. Do đó tạo được ở chủ thể HS một sự tự phát triển toàn diện” [11, tr. b- Đọc hiểu Đọc hiểu là thuật ngữ được dùng để chỉ hoạt động tiếp nhận văn bản của bạn đọc là HS trong nhà trường.
Theo GS Trần Đình Sử, “đọc hiểu” là giai đoạn tiếp nối “giảng văn” và sau đó là “phân tích tác phẩm văn học” trong nhà trường. Tác giả chỉ ra sáu nội dung của đọc hiểu tác phẩm văn học như sau: (1) Đọc là hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản (gồm chuyển mã văn bản và giải mã văn bản). (2) Đọc là hoạt động tìm nghĩa, và là hoạt động cảm thụ kết hợp với tư duy nhằm kiến tạo ý nghĩa. (3) Đọc là hoạt động mang tính cá thể hoá cao độ, gắn với trình độ, cá tính, trí tuệ của người đọc.
(4) Đọc là hoạt động sáng tạo. c- Văn bản nhật dụng 7 z Thuật ngữ “văn bản nhật dụng” được đưa vào CT và SGK từ năm 2000. Theo cuốn Làm văn của PGS TS Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), “văn bản ứng dụng” hay “văn bản nhật dụng” (everyday text) là một trong 6 kiểu văn bản được đưa vào nhà trường, nhưng không cùng loại với 5 kiểu văn bản khác, vì bản thân nó bao gồm nhiều kiểu văn bản: văn bản hành chính- công vụ, văn bản thống kê, quảng cáo; thư, điện chúc mừng, v.v… Nó còn được gọi bằng những tên gọi khác như: văn bản thường nhật, văn bản điều hành, văn bản hành chính- công vụ,v.v… Theo cuốn sách này, văn bản nhật dụng có các đặc điểm sau đây: - Tính phổ cập. - Tính thực dụng.
- Tính thông tin. - Tính quy phạm [18, tr. Trên đây là cách hiểu trên phương diện Làm văn đối với văn bản nhật dụng. Trên phương diện Đọc hiểu, một số văn bản thuộc kiểu văn bản nhật dụng (thường là hồi kí, nhật kí, thư từ,…) đã được đưa vào CT.
Cách hiểu văn bản nhật dụng trong CT Đọc hiểu cũng thống nhất với khái niệm này trong CT Làm văn, tuy nhiên các văn bản nhật dụng được dùng trong đọc hiểu thường chỉ bao gồm một số văn bản thuộc nhật kí, hồi kí, thư từ, truyện ngắn,… mà không có các dạng văn bản hành chính như báo cáo, đơn từ,… 1.2- Mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) và quy trình bài học của VNEN Như đã giới thiệu, “Mô hình trường học mới tại Việt Nam” (VNEN) là dự án đang trong giai đoạn thí điểm với khoảng 2000 trường trên cả nước tham gia. Mô hình này được khởi xướng từ Columbia và hiện nay, sau gần ba mươi năm phát triển, đã mở rộng địa bàn ra nhiều nước khác trên thế giới. Nó được xác định là phù hợp với những nước đang phát triển như Việt Nam. 8 z Mô hình này có những lợi thế trong việc tạo không khí dân chủ trong lớp học, trong nhà trường; tạo niềm hứng thú cho HS, đảm bảo cho HS “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”; đặc biệt nó có khả năng tạo điều kiện tốt nhất để HS hình thành và phát triển các năng lực và phẩm chất cần thiết như: tự lập, hợp tác, sáng tạo, tự tin,… Mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) có nhiều nội dung: từ tổ chức lớp học đến thực hiện dạy học theo quy trình mới, trong đó, quan trọng nhất là biên soạn và thực hiện tài liệu Hướng dẫn học các bộ môn.
Sau đây là quy trình 5 bước của bài học theo VNEN ở cấp THCS: (A) Hoạt động khởi động Mục đích của bước này là giúp HS tạo ra hứng thú để HS bước vào bài học mới; huy động vốn kiến thức và kĩ năng để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kĩ năng mới. (B) Hoạt động hình thành kiến thức mới Mục đích của bước này giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thống các bài tập/ nhiệm vụ. Các tri thức ở hoạt động này thuộc cả ba phân môn trong SGK hiện hành: Đọc - hiểu, Tiếng Việt và Tập làm văn, được tiến hành theo trình tự sau: Đọc văn bản Mục này yêu cầu HS đọc, có mục Chú thích. GV cần giao nhiệm vụ cho HS đọc trước ở nhà; đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bài ngắn và một vài lưu ý trong chú thích.
Tìm hiểu văn bản Sách Hướng dẫn học Ngữ văn thiết kế các bài tập/ nhiệm vụ cho HS khi tìm hiểu văn bản theo một số hình thức dưới đây: – Sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài tập/ nhiệm vụ lớn hơn. – Thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận. – Thiết kế các hoạt động kích thích khám phá, sáng tạo. 9 z Nội dung các bài tập/ nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu tìm hiểu về nội dung, nghệ thuật, đặc điểm thể loại của văn bản.
Các hoạt động của HS trong mục này gồm: hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, một số trường hợp có thể có hoạt động chung cả lớp. Tích hợp kiến thức Tiếng Việt Tích hợp với nhiệm vụ tìm hiểu văn bản, một số bài tập/ nhiệm vụ yêu cầu HS tìm hiểu các kiến thức tiếng Việt. Các khái niệm thuộc ngôn ngữ học được giảm tải, chuyển hoá thành dạng kĩ năng, giúp HS dễ tiếp nhận hơn. Các mục Ghi nhớ trong SGK cũng được chuyển hoá sang bài tập củng cố hoặc một chú ý mang tính tham khảo.
Tích hợp kiến thức Tập làm văn Các kiến thức tập làm văn cũng được dạy tích hợp với đọc - hiểu và tiếng Việt. Cũng như phần kiến thức tiếng Việt, những nội dung lí thuyết tập làm văn được giảm tải và chuyển hoá thành kĩ năng. Lưu ý: – Khi tiến hành dạy học đọc - hiểu, cần đặc biệt lưu ý không biến mục này thành giờ giảng văn, thuyết trình, hay vấn đáp,. như cách dạy học truyền thống.
– Với những kiến thức Tiếng Việt và Tập làm văn, GV cũng không dùng phương pháp diễn giảng mà thông qua các bài tập/ nhiệm vụ để HS tự giải quyết. (C) Hoạt động thực hành Mục đích của hoạt động này là củng cố và rèn luyện kĩ năng cho HS thông qua hệ thống các bài tập/ nhiệm vụ. Các bài tập/ nhiệm vụ trong phần thực hành cũng theo trình tự: đọc - hiểu văn bản, tiếng Việt và tập làm văn. (D) Hoạt động ứng dụng 10 z Mục đích của hoạt động ứng dụng là giúp HS sử dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế.
Với sách Hướng dẫn học Ngữ văn THCS, hoạt động ứng dụng được thiết kế cho HS làm việc ở nhà. Các bài tập ứng dụng gồm các loại: – Vận dụng kiến thức đọc - hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng văn học, văn hoá khác tương ứng. Ví dụ: giải thích câu tục ngữ, phân tích bài ca dao, nêu ý kiến về một hiện tượng văn hoá,. – Vận dụng kiến thức, kĩ năng tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề, như: giải nghĩa, tìm từ loại, xác định cấu tạo từ,.
trong các hiện tượng ngôn ngữ của cuộc sống. – Tiếp tục rèn luyện kĩ năng tập làm văn. Phần ứng dụng vẫn có thể sử dụng trong hoạt động trên lớp, nếu thấy cần thiết và có thời gian; giữa Hoạt động thực hành và Hoạt động ứng dụng có mối quan hệ linh hoạt, không cứng nhắc. (E) Hoạt động bổ sung Mục đích của hoạt động này là tiếp tục mở rộng kiến thức, kĩ năng cho HS.
Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ gồm: – Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan. – Trao đổi với người thân về nội dung bài học, như: kể cho người thân nghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa của câu chuyện,. – Tìm đọc trên in-tơ-nét một số nội dung theo yêu cầu. Các nhiệm vụ trong hoạt động bổ sung cũng được thiết kế cho HS tự làm việc ở nhà.
Mục đích của VNEN là đưa các thành viên gia đình và xã hội vào quá trình học tập của các em; đồng thời, yêu cầu các em sử dụng in-tơ-nét để kết gắn với xã hội rộng lớn.