Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ VẬN DỤNG QUY LUẬT QUAN HỆ SẢN XUẤT PHÙ HỢP VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀO XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 1. Nội dung và vị trí của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 1. Nội dung của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất * Lực lượng sản xuất và các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất Thuật ngữ “Lực lượng sản xuất” lần đầu tiên được C. Mác nêu trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” (1846).
Nội dung của khái niệm được ông phát biểu sâu sắc thêm trong các tác phẩm: “Sự khốn cùng của triết học” (1847), “Lao động làm thuê và tư bản” (1849) và đặc biệt là trong bộ “Tư bản”. Mác nêu rõ nội hàm của khái niệm LLSX qua những yếu tố cấu thành, đó là người lao động và tư liệu sản xuất. Các yếu tố này tác động với nhau thúc đẩy sự phát triển sản xuất, làm cho LLSX luôn thay đổi. Từ đó, LLSX được hiểu là kết quả của năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội.
Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm LLSX, nhưng đều thống nhất ở việc nêu lên nội dung cơ bản của khái niệm gồm những yếu tố sau: LLSX biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, là kết quả năng lực thực tiễn của con người trong quá trình chinh phục tự nhiên. LLSX là một thể thống nhất hữu cơ gồm yếu tố con người và tư liệu sản xuất. Trong đó, con người là chủ thể tích cực, sáng tạo và sử dụng các phương tiện, công cụ để tác động vào tự nhiên tạo ra những vật phẩm cần thiết cho xã hội. Đây chính là nội dung cơ bản nhất của khái niệm LLSX.
11 z LLSX được phát triển không ngừng trong quá trình sản xuất xã hội. Từ đó có thể chỉ ra nội dung có tính chất tổng hợp của khái niệm LLSX như sau: LLSX là biểu hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là kết quả năng lực thực tiễn của con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định, là một thể thống nhất hữu cơ giữa yếu tố con người và tư liệu sản xuất, trong đó con người là chủ thể tích cực và sáng tạo với trí tuệ là chủ đạo, có tri thức khoa học và kỹ thuật, trình độ chuyên môn, kỹ năng và những kinh nghiệm, thói quen, biết chế tạo và sử dụng các phương tiện lao động tác động vào các đối tượng của tự nhiên, cải tạo chúng, biến chúng thành của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu xã hội, LLSX phát triển không ngừng trong quá trình sản xuất xã hội. LLSX biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Nghĩa là, trong quá trình sản xuất xã hội, con người chinh phục tự nhiên bằng cách tổng hợp các sức mạnh hiện thực của mình.
LLSX nói lên năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội. LLSX là biểu hiện mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Nhưng không phải mọi mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đều là LLSX. Vì con người còn có nhiều mối quan hệ khác với tự nhiên như quan hệ thẩm mỹ, quan hệ tình cảm, quan hệ nhận thức, quan hệ thích nghi và cải tạo.
Chỉ có mối quan hệ nào mà trong đó con người cải tạo những vật phẩm của tự nhiên thành những sản phẩm vật chất cho xã hội mới là biểu hiện của LLSX. LLSX bao gồm toàn bộ tư liệu sản xuất và người lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó với kinh nghiệm sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ. Thứ nhất, về tư liệu sản xuất: Trong quá trình sản xuất, để cải biến đối tượng lao động thành sản phẩm thoả mãn nhu cầu của mình, con người phải sử dụng tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất, thiếu nó thì con người không thể tiến hành sản xuất được.
Tư liệu sản xuất được cấu thành từ hai bộ phận căn bản là tư liệu lao động và đối tượng lao động, Mác nói: “Cả tư liệu lao động và đối tượng lao động đều biểu hiện ra là tư liệu sản xuất” [65, tr 17]. 12 z Đối tượng lao động là vật thể tự nhiên mà con người tác động vào và cải tạo chúng thành những của cải vật chất khác nhau. Vật thể đó có thể nằm sẵn trong giới tự nhiên bao quanh con người. Trong trường hợp này, nó còn được tách ra khỏi giới tự nhiên và là đối tượng lao động của ngành công nghiệp khai thác.
Trong nhiều ngành sản xuất, đối tượng lao động là những vật liệu chịu sự tác động của lao động con người một hoặc vài lần. Đối tượng lao động là nguyên liệu. Nguyên liệu này có thể là cơ sở tự nhiên chủ yếu của sản phẩm đã được sản xuất ra. Mác phân biệt hai loại đối tượng này như sau: “Mọi nguyên liệu đều là đối tượng.
Nhưng không phải mọi đối tượng đều là nguyên liệu, đối tượng lao động chỉ trở thành nguyên liệu sau khi đã trải qua một sự biến đổi nào đó do lao động gây ra”[65, tr 232]. Như vậy, chúng ta có thể hiểu đối tượng lao động chính là những thứ mà con người sử dụng công cụ lao động tác động vào nó, biến nó thành những sản phẩm hữu ích. Nó có thể có sẵn trong tự nhiên như đất, nước, cây rừng…Song phần lớn do con người tạo ra dưới dạng nguyên vật liệu - sản phẩm của quá trình chế biến như sắt, thép, các loại nhựa hoá học… Tư liệu lao động chính là khâu trung gian của người lao động và đối tượng lao động. Mác định nghĩa tư liệu lao động như sau: “Tư liệu lao động là một vật, hay là toàn bộ những vật mà đặt ở giữa họ và đối tượng lao động và được họ lấy làm vật truyền dẫn hoạt động của họ vào đối tượng ấy” [65, tr 232].
Theo nghĩa đó, tư liệu lao động gồm: công cụ sản xuất, ví dụ như: máy móc, dụng cụ thủ công…chúng cấu thành hệ xương và hệ cơ của nền sản xuất; các yếu tố phục vụ trực tiếp sản xuất hoặc gián tiếp quá trình sản xuất ví dụ như: đất đai trong công nghiệp, nhà cửa dùng cho sản xuất, các công trình xây dựng, các sông đào, đường xá, bến bãi…(còn gọi là cơ sở hạ tầng của sản xuất); các đồ dùng để chứa đựng, bảo quản nguyên vật liệu và sản phẩm làm ra như: kho, bể chứa, thùng, chậu… Những thứ này đã cấu thành hệ huyết quản của nền sản xuất. 13 z Thứ hai là người lao động: Người lao động chính là nguồn cung cấp sức lao động (tổng hợp thể lực và trí lực) là chủ thể của lao động sản xuất. Quá trình lao động chính là quá trình con người sử dụng công cụ lao động để tác động vào đối tượng lao động một cách có mục đích và kết quả. Trong các yếu tố hợp thành LLSX, người lao động là yếu tố giữ vai trò quan trọng nhất.
Vì nếu không có con người thì ngay cả một kỹ thuật hoàn thiện nhất cũng trở thành một kỹ thuật chết. Dù cho trình độ cơ khí hoá và tự động hoá của sản xuất như thế nào, sản xuất bao giờ cũng do con người tiến hành. Dựa vào trình độ đã đạt được của sản xuất, vào kinh nghiệm sản xuất, vào thói quen lao động của mình, vào nhận thức về tự nhiên, tất cả những nhân tố này cùng phát triển với sự phát triển của sản xuất, con người sáng chế, sử dụng và cải tiến công cụ sản xuất. Lênin đã nhấn mạnh rằng, LLSX thứ nhất của loài người là người công nhân, người lao động.
Công cụ lao động chỉ có thể tác động được vào đối tượng lao động khi nó kết hợp với sức lao động của con người, nếu tách khỏi con người thì bản thân công cụ sản xuất không thể trở thành LLSX của xã hội được. Công cụ sản xuất và tất cả các tư liệu lao động đều là sự nghiệp của bàn tay con người, là sự vật chất hoá kinh nghiệm và kiến thức đã tích lũy được, là chỉ số nói lên những thành công của họ trong việc chinh phục giới tự nhiên. Vì thế, con người là LLSX chủ yếu. Con người bằng sức lực và trí tuệ của mình chế tạo ra công cụ lao động và dùng công cụ đó tác động vào tự nhiên để tạo ra những sản phẩm vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội.
Trong quá trình sản xuất, bản thân con người đối diện với thực tế của tự nhiên với tư cách là một lực lượng của tự nhiên. Để chiếm hữu được thực thể tự nhiên, cải tạo tự nhiên bắt chúng phục vụ những mục đích, nhu cầu của mình, con người đã vận dụng đến sức mạnh tự nhiên của bản thân họ như tay, chân, đầu và hai bàn tay. Chính vì thế, trong khi tác động vào tự nhiên, con người cũng làm thay đổi chính bản thân mình. Con người khi tham gia vào quá trình sản xuất với tư cách là một yếu tố của LLSX sẽ làm cho con người ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn cả về thể xác lẫn trí tuệ, tâm hồn.
Chính quá trình con người tham gia lao động và thông qua lao động thực tiễn, con người đã dùng trí tuệ để: nhận thức bản chất, quy luật 14 z của các sinh vật, hiện tượng của thế giới khách quan, sử dụng chúng làm phương tiện sản xuất, không ngừng sáng tạo ra cho mình những LLSX ngày càng lớn mạnh, tinh vi, con người đã biến những phần vật chất do tự nhiên cung cấp thành “khí quan nhân tạo” của mình để nhận thức sâu hơn, xa hơn, bản chất hơn cả lĩnh vực vi mô cũng như vĩ mô của tự nhiên. Đây cũng chính là đặc trưng lao động sáng tạo của con người mà thế giới động vật không thể nào có được. Con người chính là động vật biết chế tạo công cụ lao động. Con người không chỉ quyết định sự ra đời của công cụ lao động mà còn quyết định cả quá trình vận hành chúng.
Máy móc, công cụ dù có hiện đại, tinh vi đến đâu đi chăng nữa, nhưng nếu không có con người sử dụng, vận hành thì cũng trở thành vô ích, sẽ giống như trạng thái “nguyên thuỷ” của chúng mà thôi. Công cụ lao động được coi là yếu tố động của LLSX.