CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương Tác phẩm văn học là sản phẩm sáng tạo tinh thần của nhà văn với nội dung trọn vẹn và hình thức hoàn chỉnh. Việc tiếp cận, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật của tác phẩm là một quá trình khó khăn, phức tạp đòi hỏi người tiếp nhận phải có năng lực, có cách thức, phương pháp phù hợp. Điều này phụ thuộc vào lứa tuổi, trình độ, hoàn cảnh của người tiếp nhận.
Có thể nói, cùng với sự ra đời của văn chương, khoa học tiếp cận cũng xuất hiện, như một công cụ hiệu năng giúp người đọc, người học chiếm lĩnh giá trị tác phẩm, đồng sáng tạo với nhà văn. Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học vừa mang tính lịch sử, vừa in đậm dấu ấn thời đại, đồng thời thể hiện bản sắc của mỗi cộng đồng. Đặc biệt, phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ các khuynh hướng nghiên cứu, phê bình văn học. Những năm vừa qua, việc tiếp cận tác phẩm văn học trong và ngoài nhà trường, vì vậy, cũng có nhiều đổi thay.
Có khi, đã quá thiên về phương diện lịch sử phát sinh, có lúc chịu ảnh hưởng của lý thuyết cấu trúc,. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, lý thuyết tiếp nhận văn học đạt được nhiều thành tựu mới. Do ảnh hưởng của tâm lý học sáng tạo và cảm thụ nghệ thuật, khuynh hướng phân tích văn chương theo hướng lịch sử chức năng được đặc biệt đề cao. Ở nước ta, theo GS Phan Trọng Luận, tùy thuộc năng lực và bản lĩnh khoa học của mỗi người mà mỗi người có cách tiếp cận tác phẩm văn chương khác nhau.
Có người coi trọng hoàn cảnh lịch sử xã hội ra đời tác phẩm; có người đề cao cách thức khám phá giá trị tác phẩm từ góc độ cấu trúc; lại có người do ảnh hưởng của phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm (hay hướng học sinh vào trung tâm) lại coi trọng sở thích cảm thụ chủ quan của người học,. Điều đó dẫn đến sự “lệch pha” trong quá trình khám phá thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú đa dạng của tác phẩm. 12 z Vậy đâu là quan điểm đúng đắn về cách tiếp cận tác phẩm văn học? Theo GS Phan Trọng Luận, “Nguyên nhân chủ yếu không phải ở trình độ, tài năng mà chính là ở phương pháp luận tiếp cận tác phẩm văn chương cụ thể. Một kết luận khoa học văn chương quan trọng và cơ bản đối với người nghiên cứu và giảng dạy văn học là luôn luôn nắm vững một quan điểm tiếp cận đồng bộ, một sự vận dụng hài hòa các phương pháp lịch sử phát sinh, cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng khi tiếp cận tác phẩm văn chương.
Một phương pháp tiếp cận khoa học như vậy được xây dựng từ nhận thức đúng đắn về nguồn gốc của văn học, về bản chất cấu trúc và sinh mệnh của tác phẩm văn chương và đó cũng là sự vận động nhuần nhuyễn những quan điểm khách quan và khoa học về việc tìm hiểu một tác phẩm văn chương cụ thể. Các hướng tiếp cận chủ yếu 1. Tiếp cận tác phẩm văn chương từ góc độ lịch sử phát sinh Văn học là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng, phản ánh cuộc sống bằng hình tượng với ngôn từ giàu chất nghệ thuật. Tác phẩm văn học, dù ra đời ở đâu, thời kỳ nào cũng đều phản ánh cuộc sống, bộc lộ tâm tư khát vọng của con người.
Sự ra đời của mỗi tác phẩm luôn gắn liền với một bối cảnh lịch sử - văn hóa cụ thể. Từ hiện thực vô cùng sinh động của bộn bề cuộc sống, nhà văn, bằng tài năng và tâm huyết của mình tái hiện trong tác phẩm những hình tượng tiêu biểu, điển hình. Qua đó, nhà nghệ sĩ bộc lộ nỗi niềm tâm trạng, bày tỏ mơ ước và lý tưởng của thời đại. Bởi vậy, việc tiếp cận và chiếm lĩnh thế giới của sự sáng tạo đó không thể tách khỏi hoàn cảnh ra đời, lịch sử phát sinh phát triển của xã hội – cái nôi sinh dưỡng nhà văn và tác phẩm.
Đây chính là cơ sở của quan điểm tiếp cận văn chương từ khuynh hướng lịch sử phát sinh tác phẩm. Quan điểm tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ lịch sử phát sinh xuất hiện rất sớm và có nhiều đóng góp cho ngành phê bình văn học thế giới và trong nước. Để hiểu giá trị của hai thiên sử thi Iliat và Odixe, không thể tách 13 z rời chúng khỏi bối cảnh lịch sử - xã hội Hy Lạp giai đoạn chuyển từ chiếm hữu nô lệ sang hình thành xã hội có giai cấp; giá trị của Đường thi, Tống phú, Minh Thanh truyện sẽ sáng rõ hơn khi ta đặt chúng dưới lăng kính của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên. Tương tự như vậy, làm sao Truyện Kiều (Nguyễn Du) phát huy hết ý nghĩa của nó trong lòng độc giả khi ta tách tác phẩm khỏi bối cảnh xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, đành rằng sáng tạo của Tố Như có nguồn gốc từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân tận bên xứ Trung Quốc xa lắc xa lơ! Đây là cách vận dụng những tri thức ngoài văn bản để soi sáng giá trị bên trong tác phẩm.
Hướng tiếp cận này, ngoài việc chủ yếu đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm, còn hướng người đọc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của tác giả - chủ thể sáng tạo. Điều đó là hết sức có lý bởi tư tưởng của tác phẩm chính là sự ánh phản tư tưởng thời đại qua tâm hồn tác giả. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua đối tượng nghiên cứu của chính luận văn – tùy bút Người lái đò Sông Đà. Sau khi cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc đi lên xây dựng CNXH, đối tượng phản ánh của nền văn hoc có nhiều thay đổi.
Lý tưởng lớn của thời đại, bên cạnh khát vọng thống nhất Đất nước, là xây dựng cuộc sống mới trên miền Bắc thân thương. Nền văn học xuất hiện những hình tượng mới mang tầm vóc thời đại như người lính, anh thợ mỏ, chị nông dân. những con người đang ngày đêm cống hiến và hy sinh nơi hậu phương lớn miền Bắc XHCN. Trong việc tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp tác giả, vấn đề phong cách nghệ thuật có vai trò quan trọng.
Có thể khẳng định, phong cách tác giả góp phần làm nên phong cách thời đại, phong cách văn học dân tộc. Bởi vậy, việc khám phá phong cách Nguyễn Tuân giúp chúng ta hiểu rõ hơn Người lái đò Sông Đà. Tuy nhiên, nếu quá coi trọng yếu tố lịch sử ra đời của tác phẩm sẽ dẫn đến sự phiến diện trong nghiên cứu bởi tính chủ quan, một chiều. Điều này, trong thực tế đã diễn ra với nền phê bình Việt Nam sau năm 1945.
Vẫn biết 14 z tác phẩm văn chương là sản phẩm sáng tạo của một “con người này”(chữ dùng của Hegel), của thời đại, nhưng cũng chỉ nên xem đây là một trong các kênh thông tin giúp người đọc, người học chiếm lĩnh tác phẩm một cách trọn vẹn. Tiếp cận từ góc độ cấu trúc tác phẩm Tác phẩm văn học là một chỉnh thể thẩm mĩ có sự thống nhất cao giữa nội dung và hình thức. Văn bản văn học là những tác phẩm đi sâu phản ánh hiện thực khách quan, khám phá thế giới nội tâm, thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Văn bản văn học được xây dựng bằng ngôn ngữ nghệ thuật, có hình tượng, có tính thẩm mĩ cao, gợi nhiều liên tưởng, tưởng tượng.
Nó được xây dựng theo một phương thức riêng của từng loại thể với quy ước, cách thức đặc trưng. Với thể tự sự, là cốt truyện, nhân vật, lời văn; với thể trữ tình là vần điệu, nhịp điệu, giọng điệu, tứ thơ; với kịch là xung đột, hồi, cảnh, lời thoại,. Vì vậy, có thể khẳng định, tiếp cận văn học, trước hết và quan trọng nhất chính là khám phá bản thân tác phẩm, từ đề tài đến chủ đề, từ tư tưởng đến cảm hứng nghệ thuật, từ ngôn ngữ đến kết cấu,. Hướng tiếp cận này quan tâm đến thế giới bên trong của văn bản nhằm xác lập giá trị và vị trí của tác phẩm.
Quan điểm tiếp cận này giúp người học tập, nghiên cứu không thoát ly văn bản – đứa con tinh thần của nhà văn. Để thẩm thấu được các giá trị tự thân của văn bản, đòi hỏi mỗi người phải có vốn hiểu biết nhất định về ngôn ngữ, về lý luận văn học, về tâm lý học. Đây là điểm mấu chốt phân biệt phương pháp tiếp cận văn học đích thực với lối phân tích xã hội học tầm thường. Hướng tiếp cận này đòi hỏi người đọc phải có tri thức tổng hợp, toàn diện, dù ở mức tối thiểu.
Đó là kiến thức về ngôn ngữ, về loại thể, về thi pháp, phong cách. Người đọc cũng cần sự trải nghiệm trong môi trường văn chương, môi trường học thuật thì quá trình tiếp nhận mới thực sự hiệu quả. Trước hết, nói về vốn ngôn ngữ. Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên của tác phẩm, cũng là đối tượng cảm nhận của người đọc.
Ngôn ngữ trong tác phẩm 15 z là ngôn ngữ của cuộc sống xã hội, được nhà văn lựa chọn, sử dụng một cách sáng tạo. Vì vậy, nó vừa là phương tiện, vừa là mục đích mà người nghệ sĩ hướng đến. Ngôn từ trong tác phẩm vừa mang tính lịch sử, vừa in đậm dấu ấn thời đại đồng thời có những đặc trưng cơ bản. Đó là tính hình tượng, tính hàm súc, tính biểu cảm và tính cá thể.
Để tri nhận giá trị tác phẩm, đòi hỏi người đọc cũng phải có vốn ngôn ngữ, có khả năng cảm hiểu và sáng tạo Bên cạnh ngôn ngữ, người đọc cũng cần có hiểu biết về lý luận văn học, đặc biệt kiến thức về loại thể, về phong cách. GS Phan Trọng Luận từng khẳng định “Một trong những con đường đi vào tác phẩm văn chương là nhận diện được loại thể. Đến với thơ không giống với tự sự hay kịch”[18, tr. Thơ là thể loại văn chương nằm trong phương thức trữ tình, nảy sinh rất sớm trong đời sống.
Thơ tác động đến người đọc vừa bằng sự nhận thức cuộc sống vừa bằng khả năng gợi cảm sâu sắc, vừa trực tiếp với những cảm xúc suy nghĩ cụ thể, vừa gián tiếp qua liên tưởng và những tưởng tượng phong phú. Tự sự, đặc biệt là tiểu thuyết, nổi bật lên ở khả năng phản ánh một cách toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống theo hướng tiếp xúc hết sức gần gũi.