phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày trong ba chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ vào dạy học bài phong cách học Tiếng Việt 10 Trung học phổ thông Chƣơng 2: Định hướng dạy các bài phong cách học theo lý thuyết hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Chƣơng 3: Thực nghiệm. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP BẰNG NGÔN NGỮ 1. Cơ sở ngôn ngữ học Thuật ngữ “năng lực giao tiếp” tuy xuất hiện sau thuật ngữ “năng lực ngôn ngữ” nhưng nhờ sự xuất hiện ấy mà “năng lực giao tiếp” đã làm thay đổi quan điểm dạy học Tiếng Việt hiện nay, trở thành mục đích cuối cùng của việc dạy và học Tiếng Việt.
Khái niệm “năng lực giao tiếp” được hiểu thông qua sự đối lập với khái niệm “năng lực ngôn ngữ”. Năng lực ngôn ngữ là khả năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ…của ngôn ngữ đó. Còn năng lực giao tiếp đó là việc lựa chọn và hiện thực hóa những chương trình của hành vi lời nói tùy thuộc vào khả năng định hướng trong hoàn cảnh này hoặc khác, khả năng phân loại các tình huống sao cho phù hợp với chủ đề, nhiệm vụ và mục đích giao tiếp ở người học trước khi giao tiếp, trong khi giao tiếp và trong quá trình mô phỏng các tình huống giống và gần giống như giao tiếp thực. Nói cách khác, năng lực giao tiếp chính là khả năng tham gia vào giao tiếp.
Có thể nói, việc chọn năng lực giao tiếp làm mục đích cuối cùng của việc dạy- học ngôn ngữ dựa trên cơ sở ngôn ngữ học chức năng hay còn gọi là ngôn ngữ học giao tiếp mà những luận điểm cơ bản của nó có thể được trình bày rút gọn như sau: Giao tiếp với tư cách là một dạng hoạt động đặc biệt của con người nhằm củng cố mối quan hệ và được sử dụng để truyền đạt thông tin giữa người và người. Ở đây, có hai mặt phản ánh qua lại, mặt ngôn ngữ và mặt xã hội vì bất cứ một phát ngôn nào cũng được sản sinh trong một tình huống cụ thể có kèm theo một nền rất rộng các điều kiện tạo ra tình huống ấy. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngôn ngữ được sử dụng có tính đến tình huống giao tiếp và sự ảnh hưởng tới những đặc điểm tâm lý cá thể trong việc sử dụng từ ngữ của người tham gia giao tiếp, có nghĩa là có tính đến hiệu quả ứng dụng, điều đó loại trừ khả năng tồn tại những phát ngôn riêng biệt được tạo nên ngoài ngữ cảnh giao tiếp. Đơn vị giao tiếp là loại hành động lời nói nhất định hoặc hành vi lời nói khẳng định yêu cầu hỏi han, xin lỗi, cảm ơn… Việc hình thành ý định lời nói xảy ra trước khi sản sinh hành vi lời nói.
Khi hình thành ý định lời nói có tính đến sự hiểu biết ban đầu về mục đích, đối tượng giao tiếp, địa điểm và thời gian của phát ngôn. Nói tóm lại, theo những luận điểm trên đây thì dạy- học ngôn ngữ là đi theo con đường từ nội dung đến hình thức ngôn ngữ để biểu đạt. Ngôn ngữ là phương tiện để thực hiện những phát ngôn cụ thể. Dạy hoạt động ngôn ngữ (tức là dạy năng lực giao tiếp) chứ không phải dạy hệ thống ngôn ngữ thuần túy.
Tuy nhiên, trong quá trình dạy- học hai mặt năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp thống nhất biện chứng với nhau. Dạy năng lực giao tiếp không thể tách rời các hiện tượng ngôn ngữ, ngược lại, những kiến thức của hệ thống ngôn ngữ chỉ được xây dựng và củng cố trên cơ sở nắm được các kỹ năng lời nói. Cơ sở tâm lý - ngôn ngữ Theo quan điểm tâm lý học hoạt động do nhà tâm lý học người Nga L.Vư-gootsxki và trường phái của ông đề xướng thì hoạt động lời nói là một dạng hoạt động đặc biệt của con người, mà hoạt động thì bao gồm nhiều hành động riêng lẻ và mỗi hành động được tạo thành từ nhiều thao tác riêng biệt.Từ đó suy ra đơn vị dạy- học ngôn ngữ phải là hành động lời nói. Dạy hành động lời nói cần phải xem xét trên quan điểm: Dạy ai? Dạy cái gì?, Dạy để làm gì? và Dạy như thế nào?.
Đối với việc dạy hoạt động lời nói, sự thống nhất giữa các mặt chức năng và hình thức của nó là đều có ý nghĩa 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rất quan trọng bởi vì hình thức ngôn ngữ không thể có được nếu thiếu mặt chức năng. Nếu mục đích của việc dạy- học là hoạt động lời nói thì hình thức và chức năng cần phải được hình thành đồng thời, hơn thế, cơ sở để hình thành hoạt động lời nói phải là chức năng giao tiếp của ngôn ngữ. Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng rất nhiều thành tựu của Tâm lý học. Đó là các quy luật tiếp thu tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo.
Giáo viên cần biết, sản phẩm lời nói được sản sinh ra như thế nào, quá trình học được thiết lập từ những yếu tố nào, khái niệm ngữ pháp được hình thành ở học sinh ra sao, vai trò của ngôn ngữ trong sự phát triển tư duy ra sao, kỹ năng nói, viết được hình thành như thế nào?.những nghiên cứu Tâm lý học cho phép chúng ta xác định mức độ vừa sức của tài liệu học tập. Mặt khác, Tâm lý ngôn ngữ học đem lại cho phương pháp những số liệu về lời nói như một hoạt động, ví dụ như việc xác định tình huống nói năng, các giai đoạn sản sinh lời nói, tính hiệu quả, sự tác động của lời nói trong giao tiếp giữa cá thể với nhiều người. Quan hệ của phương pháp học Tiếng Việt và Tâm lý học, đặc biệt là Tâm lý học lứa tuổi rất chặt chẽ. Không có kiến thức về quá trình tâm lý người nói chung và tâm lý học sinh trung học phổ thông nói riêng thì không thể giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho các em.
Kiến thức thu nhận được từ con đường tự khám phá mới là kiến thức vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất. Người Mỹ có câu châm ngôn “Nói cho tôi thì tôi sẽ quên. Cho tôi xem thì tôi có thể sẽ nhớ. Cho tôi tham gia thì tôi sẽ hiểu.” Người Việt Nam ta cũng có một cách nói tương tự: “ Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm”.
Cách đây hơn 25 thế kỷ, Khổng Tử cũng nói: “Tôi nghe- tôi quên. Tôi nhìn- tôi nhớ. Tôi làm- tôi hiểu”. Quan điểm học phương Tây đã mở rộng câu nói của Khổng Tử thành luận điểm phương pháp học chủ động (the active learning credo): “Tôi nghe- tôi quên.
Tôi nghe và nhìn- tôi nhờ chú ít. Tôi nghe, nhìn, hỏi hoặc thảo luận- tôi bắt 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu hiểu. Tôi nghe, nhìn, hỏi, thảo luận và thực hành- tôi bắt đầu học được kỹ năng và kiến thức. Tôi dạy cho người khác- tôi thành thạo”.
Các chuyên gia giáo dục người Mỹ còn nghiên cứu và đưa ra tỉ lệ mức độ tiếp thu trung bình của người học từ các phương thức dạy học: Thuyết giảng: 0,5%, đọc: 10%; nghe nhìn: 20%; mô tả, trình bày: 30%; thảo luận nhóm: 50%; thực hành: 75%; Dạy cho người khác hoặc ứng dụng ngay của việc học: 90%”. Như vậy, hầu hết các ý kiến và quan điểm nghiên cứu phương Đông và phương Tây đều khẳng định tầm quan trọng của việc tổ chức hoạt động học tập ở người học. Cơ sở giáo dục học Phương pháp dạy học Tiếng Việt là một bộ phận của khoa học giáo dục nên nó phụ thuộc vào những quy luật chung của khoa học này. Giáo dục học nói chung, Lý luận dạy học đại cương nói riêng cung cấp cho phương pháp dạy học Tiếng Việt những hiểu biết về các quy luật chung của việc dạy học môn học.
Mục đích của phương pháp dạy học Tiếng Việt cũng như các khoa học giáo dục nói chung là tổ chức sự phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào cuộc sống lao động trong xã hội mới. Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt với khoa học giáo dục thể hiện ở chỗ phương pháp được một hệ thống giáo dục tạo ra và làm cơ sở. phương pháp dạy học Tiếng Việt sử dụng các khái niệm, thuật ngữ của Giáo dục học. Nó hiện thực hóa mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục do Giáo dục học đề ra- phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mỹ giáo dục tổng hợp và giáo dục lao động.
trong phương pháp dạy học Tiếng Việt có thể tìm thấy các nguyên tắc cơ bản của Lý luận dạy học: nguyên tắc giáo dục và phát triển của dạy học, nguyên tắc vừa sức, nguyên tắc khoa học, nguyên tắc hệ thống, nguyên tắc gắn liền lý thuyết với thực hành, nguyên tắc trực quan, nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hóa trong dạy học… 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phương pháp dạy học Tiếng Việt vận dụng những nguyên tắc này theo đặc trưng riêng của mình. Ví dụ nguyên tắc gắn liền lý thuyết và thực hành trong phương pháp dạy học Tiếng Việt đòi hỏi một hoạt động lời nói thường xuyên, biểu hiện ý nghĩa bằng lời nói, viết, cùng với việc thường xuyên vận dụng những hiểu biết lý thuyết trong bài tập. Nhiệm vụ phát triển lời nói đã quy định việc xây dựng chương trình Tiếng Việt mà tất cả các phân môn đều có mục đích phát triển bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Thực hiện nguyên tắc trực quan trong giờ Tiếng Việt không chỉ là việc sử dụng sơ đồ, bảng biểu, dung chữ viết sẵn, phim ảnh mà còn là “trực quan lời nói”, bao gồm từ việc quan sát ngôn ngữ sống động đến việc dựa vào bài khóa trong khi nghiên cứu về ngữ âm, từ vựng, chính tả, ngữ pháp.
Tài liệu trực quan cơ bản trong giờ học Tiếng Việt là Tiếng Việt văn hóa, Tiếng Việt trong những mẫu tốt nhất của nó: văn học dân gian, tác phẩm văn học Việt Nam và thế giới. Phương pháp dạy học Tiếng Việt chọn ở Giáo dục học các hình thức tổ chức dạy học như bài học và các hình thức khác.