LỜI MỞ ĐẦU Triết học là một bộ môn ý nghĩa trong cuộc sống nhân loại giúp con người khái quát hóa và xây dựng những tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới cũng như vị trí của con người trong thế giới đó. Trải qua bề dày lịch sử với sự đóng góp đa dạng từ nhiều trường phái Triết học khác nhau. Như lần đầu tiên vào khoảng hơn 2500 trước, các học thuyết Triết học đã xuất hiện tại Ấn Độ, Trung Quốc và ở Hy Lạp. Thông qua đó, hình thành phép biện chứng đầu tiên trong lịch sử triết học là phép biện chứng cổ đại, mà đại biểu lớn nhất là ông Hêraclít (khoảng 540-480 TCN) với quan niệm về sự hài hòa và đấu tranh của các mặt đối lập, về tính thống nhất của vũ trụ.
Sau đó, ông Democritus (khoảng 460- 370 TCN) cũng cho ra đời Thuyết nguyên tử trên chủ nghĩa duy vật được đưa ra, được kế thừa bởi ông Platon (427-347 TCN), là nhà triết học đầu tiên của chủ nghĩa duy tâm và phát triển biện chứng sâu sắc mối liên hệ của các khái niệm. Đến thời Trung cổ, Phục Hưng và cận đại, Triết học Tây Âu cũng có nhiều biến động lớn và Triết học thời kỳ này là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh chống phong kiến và giáo hội. Cụ thể, Tư tưởng của các nhà triết học Phục Hưng có tính hai mặt: Vừa có những tiến bộ nhưng vừa chứa nhiều yếu tố duy tâm. Nhưng nhìn chung, Triết học đã gắn liền với vấn đề nâng cao giá trị khát vọng giải phóng con người, kèm theo những tư tưởng xã hội học thấm nhuần chủ nghĩa nhân văn.
[1] Cho đến khi, Chủ nghĩa C.Mác nói chung và triết học Mác xuất hiện vào những năm 40 của thế kỷ 3 XIX ở Tây Âu, ông đã phê phán, phơi bày của Chủ nghĩa Tư bản những khi Giai cấp Vô sản thể hiện mình trên vũ đài lịch sử như một lực lượng chính trị độc lập. Sự xuất hiện của chủ nghĩa Mác là sự kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại và cố gắng tìm ra câu trả lời khoa học cho các hai vấn đề cơ bản của Triết học: Mối quan hệ giữa Thế giới vật chất và Thế giới tinh thần; Khả năng nhận thức về Thế giới quan của con người. Song song đó, ông Ph.Ăngghen (1820-1895) cũng đã cho rằng Thế giới thống nhất nằm ở tính vật chất và luôn tìm tòi những luận điểm tư tưởng của nền Triết học ở xã hội trước đây để tạo ra một thế giới quan mới về chất. Trên cơ sở kế thừa quan điểm, ông Lenin cũng đưa ra định nghĩa về vật chất như thực tại khách quan, ảnh hưởng con người thông qua nhận thức.
Dù là thời đại nào, mỗi trường phái Triết học sẽ luôn có những pháp luận khác nhau để luận giải các sự vật hiện tượng xung quanh chúng ta. Trên thực tế, ở bộ môn Triết học Mác Lênin sẽ tập trung vào hai phương pháp luận chính: Phương pháp luận biện chứng (“PPLBC”) và Phương pháp luận siêu hình. Cụ thể, PPLBC là một trong những phương pháp luận được nhìn nhật rất quan trọng trong cả nền Triết học phương Đông và triết học phương Tây ở thời cổ đại. Theo đó, PPLBC đóng vai trò nhận thức sự vật, hiện tượng ở trong các mối liên hệ phổ biến với nhau, chúng ảnh hưởng và ràng buộc lẫn nhau.
Nhận thức được đối tượng ở trong trạng thái vận động và phát triển. Đây là một quá trình thay đổi về chất đối với các sự vật, hiện tượng mà nguồn gốc của những sự thay đổi ấy chính là do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập nhằm 4 để giải quyết các mâu thuẫn nội tại của chúng. Như vậy, có thể thấy PPLBC thể hiện được tư duy mềm dẻo, linh hoạt sau khi trải qua ba giai đoạn phát triển đó là phép biện chứng cổ đại, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật. Nó cũng là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành Thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác Lênin hiện nay, đang được nghiên cứu rộng rãi.
Quan trọng hơn hết, Phép biện chứng duy vật cũng là phương pháp luận chung nhất cho tất cả mọi hoạt động thực tiễn của xã hội, giúp nâng cao nhận thức của con người về Thế giới. Trong đó, bao gồm Nguyên lý về sự phát triển của các sự vật, hiện tượng sẽ là nguyên lý được đề cao, tập trung phân tích trong bài tiểu luận này. Nguyên lý đã phản ánh rõ về các trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của tất cả sự vật, hiện tượng đôi khi nhanh hoặc chậm, tiến lên hoặc thụt lùi nhưng tất cả đều có xu hướng chung là phát triển. Nếu xét sự phát triển trong lĩnh vực xã hội thì sự phát triển biểu hiện ở năng lực chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội để tiến tới mức độ ngày càng cao trong sự nghiệp giải phóng con người.
Mà những nội dung này trong quan điểm trên đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của đất nước Việt Nam thể hiện từ rất sớm, ngay từ khi còn là một thanh niên trên hành trình bôn ba tìm đường cứu nước. Nội dung tư tưởng của Người luôn dựa trên sự hệ thống quan điểm toàn diện nền tảng thế giới quan và các phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Người đã từng nói rằng: “Tôi khuyên các bạn là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông, đọc nghe sướng tai nhưng không thực 5 hiện được. Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được.
Việc gì cũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ đến khó, từ thấp dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hành được hẳn hoi hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được”. Lời nói trên đã bao hàm tư tưởng của Người về Nguyên lý về sự phát triển của các sự vật hiện tượng, nhắc nhở dân tộc Việt Nam sự phát triển là quá trình dài, đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, đòi hỏi chúng ta không ngừng cải tiến, đổi mới trong các lĩnh vực Kinh tế - Xã hội, Khoa học – Lý luận và Chính trị để kịp sánh bước cùng chiều với quy luật của tự nhiên, khai thác, sử dụng và tái tạo hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ bảo đảm cho sự phát triển bền vững trong tương lai. Để minh chứng cho sự cấp thiết của Nguyên lý về sự phát triển của các sự vật hiện tượng nằm trong Phép biện chứng duy vật có ý nghĩa to lớn như thế nào đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người nói chung và các doanh nghiệp đang kinh doanh tại Việt Nam nói riêng, đề tài “Vận dụng nguyên lý về sự phát triển của Phép biện chứng duy vật vào thực tiễn tại Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam” sẽ được thực hiện cho mục đích nghiên cứu.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC SỰ VẬT HIỆN TƯỢNG 6 Trong triết học, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong thế giới quan luôn được quan tâm và đặt ra nghi vấn rằng thế giới vật chất có trước quyết định thế giới tinh thần hay mang tính ngược lại. Và con người thật sự có khả năng nhận thức về thế giới thực tại này hay không? Nếu có thì con người có thể nhận thức đến mức độ nào về các sự vật, hiện tượng khác nhau trong cuộc sống. Chúng đang đứng yên bất động hay không ngừng vận động và phát triển và đâu là nguồn gốc của những trạng thái được đặt ra của các sự vật hiện tượng? Trong phép biện chứng duy vật, những nguyên lý cơ bản của chính phép biện chứng sẽ giúp con người có những câu trả lời rõ ràng và dễ hiểu hơn về các câu hỏi luôn được đặt ra xuyên suốt như trên.1 Khái niệm và nội dung nguyên lý về sự phát triển của các sự vật hiện tượng Đầu tiên, Nguyên lý phát triển của các sự vật hiện tượng (“NLPT”) gắn liền với Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng trong phép biện chứng duy vật của Triết học Mác Lênin. Vì thế, từ khái niệm, nội dung cho đến tính chất và ý nghĩa phương pháp luận của các nguyên lý sẽ luôn bổ trợ và liên kết với nhau ở Triết học Mác Lênin.
Cụ thể, trong tiểu luận này, khái niệm Nguyên lý phát triển của các sự vật hiện tượng sẽ được diễn giải như các hệ tư tưởng, điểm xuất phát đầu tiên cho những lý thuyết về sau. Khái niệm NLPT được xem là một phạm trù triết học của sự phát triển và dùng sự phát triển đó để khái quát hoá những 7 trạng thái vận động xung quanh các hiện tượng, sự vật đó. Do đó, cụm từ “phát triển” và “vận động” nên được đề cập sơ lược và phân biệt rõ ràng trước khi phân tích sâu hơn về khái niệm chung của Nguyên lý. Thứ nhất, vận động là quá trình chuyển động và kết quả của một sự vận động trên sự vật hiện tượng này sẽ tạo ra trạng thái vận động khác của chính sự vật hiện tượng đó hoặc là sự vật hiện tượng khác.
Vật chất phải thông qua sự vận động mới tồn tại được và không phủ nhận sự bất động tương đối của một chất nào đó hay của yếu tố tạo thành vật chất đó, sự vận động trong vật chất là do chính bản chất của vật chất quy định và sẽ không bao giờ mất đi, chỉ di chuyển từ trạng thái vận động này sang trạng thái vận động mới. Và phạm vi khái niệm của “vận động” được xem là lớn hơn khái niệm “phát triển”, bao gồm một là, sự thay đổi những quy định về chất theo xu hướng tiến bộ; hai là, sự thay đổi những quy định về chất theo xu hướng thoái bộ; và ba là, sự thay đổi những quy định về lượng theo xu hướng ổn định tương đối về chất. Thông qua những luận giải trên, vận động sẽ có khuynh hướng tạo ra những trạng thái của sự vật, hiện tượng vật chất theo một cách mới mẽ, tiến lên và sự “phát triển” được khẳng định có mối quan hệ mật thiết đối với kết quả “vận động” này. Ví dụ: Trong sinh học, sự quang hợp của các loài thực vật cũng đại diện cho hình thức vận động, thông qua việc sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời đã được diệp lục hấp thụ cho đến sự tổng hợp Cacbohidrat, sau đó giải phóng O2 từ khí CO2 và nước.