Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TĂNG TRƢỞNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH Tập trung làm rõ những cơ sở lý luận về tăng trƣởng kinh tế và thực tiễn những vấn đề nảy sinh của một số nƣớc có mức độ tăng trƣởng nhanh đã và đang gặp phải trong thời gian qua. Chương 2: TĂNG TRƢỞNG CAO Ở TRUNG QUỐC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH Tập trung làm rõ, phân tích và đánh giá những mặt trái trong quá trình tăng trƣởng cao ở Trung Quốc. Chương 3: GIẢI PHÁP CHO NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH TRONG TĂNG TRƢỞNG CAO Ở TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM Phân tích những giải pháp mà Trung Quốc đã sử dụng để giải quyết những tồn tại của mình. Từ những giải pháp đó rút ra bài học và vận dụng cho Việt Nam để xử lý những vấn đề tƣơng tự.
6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TĂNG TRƢỞNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NẢY SINH 1. Khái niệm về tăng trưởng kinh tế 1. Khái niệm a) Tăng trƣởng kinh tế Tăng trƣởng kinh tế đƣợc xem là một trong những vấn đề hấp dẫn nhất trong nghiên cứu kinh tế học, quan niệm về vấn đề này ngày càng hoàn thiện hơn. Tăng trƣởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thƣờng là một năm) [17].
Sự gia tăng đó đƣợc thể hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trƣởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trƣởng đƣợc sử dụng với ý nghĩa so sánh tƣơng đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ. Bản chất của tăng trƣởng là phản ánh sự thay đổi về lƣợng của nền kinh tế. Nhƣ vậy thì tăng trƣởng kinh tế có đồng nghĩa với phát triển kinh tế? Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trƣởng kinh tế.
Nó bao gồm tăng trƣởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (nhƣ phúc lợi xã hội, tuổi thọ, v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ). Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trƣờng, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo rằng GDP cao hơn đồng nghĩa với mức độ hạnh phúc hơn. b) Tăng trƣởng cao Từ khái niệm tăng trƣởng kinh tế có thể lý giải thế nào là tăng trƣởng cao. Tăng trƣởng cao là sự tăng nhanh về GDP hay GDP bình quân đầu ngƣời trong một thời gian tƣơng đối dài.
7 z Do giá trị của tăng trƣởng là khác nhau giữa những nƣớc có trình độ phát triển khác nhau, do đó để đánh giá mức tăng trƣởng là cao hay thấp cần dựa vào trình độ phát triển, các chỉ tiêu GDP, GDP bình quân đầu ngƣời. Chẳng hạn, đối với các nƣớc phát triển ở Châu Âu, hay Mỹ, Nhật với mức tăng trƣởng bình quân hàng năm đạt 1 - 2%/năm thì mức độ tăng trƣởng 3 - 4%/năm đƣợc đánh giá là cao. Trong khi đó, với các nƣớc đang và kém phát triển, với mức tăng bình quân đạt 4 - 6%/năm thì mức độ tăng trƣởng 8 - 9%/năm mới đƣợc coi là cao. Khác biệt này là do sự gia tăng GDP của các nƣớc đang và kém phát triển chỉ bằng một phần nhỏ so với sự gia tăng GDP của các nƣớc phát triển cả về giá trị, thu nhập và những chỉ tiêu khác.
Theo đó, Trung Quốc với mức tăng trƣởng trong nhiều năm lại đây, liên tục đạt tốc độ trên 9% đƣợc xem là nƣớc có tốc độ tăng trƣởng cao trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong vài thập kỷ trở lại đây, kinh tế thế giới vận động và phát triển theo xu hƣớng tăng trƣởng bền vững, tức là yêu cầu tăng trƣởng kinh tế đƣợc gắn liền với tính bền vững hay việc bảo đảm chất lƣợng tăng trƣởng ngày càng cao. Theo khía cạnh này, điều đƣợc nhấn mạnh nhiều hơn là sự gia tăng liên tục, có hiệu quả của chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu ngƣời. Hơn thế nữa, quá trình ấy phải đƣợc tạo nên bởi nhân tố đóng vài trò quyết định là khoa học, công nghệ và vốn nhân lực trong điều kiện một cơ cấu kinh tế hợp lý.
Đánh giá tăng trưởng kinh tế Theo mô hình kinh tế thị trƣờng, thƣớc đo tăng trƣởng kinh tế đƣợc xác định theo các chỉ tiêu của hệ thống tài sản quốc gia (SNA), bao gồm một số chỉ tiêu nhƣ sau: a) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) GDP là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do kết quả hoạt động kinh tế trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia tạo nên trong một thời kỳ nhất định. Để tính GDP có ba cách tiếp cận cơ bản là từ sản xuất, tiêu dùng và phân phối. Theo cách tiếp cận từ sản xuất, GDP là giá trị gia tăng tính cho toàn bộ nền kinh tế. Nó đƣợc đo bằng tổng giá trị gia tăng của tất cả các đơn vị sản xuất thƣờng trú trong nền kinh tế.
8 z b) Tổng thu nhập quốc dân (GNP) GNP là tổng thu nhập từ sản phẩm vật chất và dịch vụ cuối cùng do công dân của một nƣớc tạo nên trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu này bao gồm các khoản hình thành thu nhập và phân phối lại thu nhập lần đầu có tính đến cả các khoản nhận từ nƣớc ngoài về và chuyển ra nƣớc ngoài. Nhƣ vậy, GNP hình thành từ GDP tiếp cận theo góc độ thu nhập và đƣợc điều chỉnh theo con số chênh lệch thu nhập nhân tố với nƣớc ngoài. Sự khác nhau về lƣợng giữa GDP và GNP là ở phần chênh lệch thu nhập nhân tố với nƣớc ngoài.
Ở các nƣớc đang phát triển thì GNP thƣờng nhỏ hơn GDP vì thông thƣờng phần chênh lệch này nhận giá trị âm. c) Thu nhập bình quân đầu ngƣời Chỉ tiêu này phản ánh tăng trƣởng kinh tế có tính đến sự thay đổi dân số. Quy mô và tốc độ thu nhập bình quân đầu ngƣời là những chỉ báo quan trọng và là tiền đề để nâng cao mức sống dân cƣ nói chung. Sự gia tăng liên tục với tốc độ ngày càng cao của chỉ tiêu này là dấu hiệu thể hiện sự tăng trƣởng bền vững và nó còn đƣợc sử dụng trong việc so sánh mức sống dân cƣ giữa các quốc gia với nhau.
Ngoài ra bảng SNA còn sử dụng một số chỉ tiêu đánh giá tăng trƣởng kinh tế khác nhƣ tổng giá trị sản xuất (GO), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập quốc dân (NI) và giá để tính các chỉ tiêu tăng trƣởng. Một số lý thuyết về tăng trưởng và mô hình tăng trưởng kinh tế 1. Một số lý thuyết về tăng trưởng kinh tế Từ khi kinh tế học ra đời, vấn đề tăng trƣởng kinh tế đƣợc các nhà kinh tế học nghiên cứu theo tiến trình phát triển của lịch sử kinh tế. a) Mô hình tân cổ điển về tăng trƣởng kinh tế Mô hình tăng trƣởng tân cổ điển, lần đầu tiên đƣợc đƣa ra từ hơn 50 năm trƣớc nhƣng vẫn còn là cách tiếp cận kinh tế học tăng trƣởng có ảnh hƣởng nhất.
Mô hình này ban đầu đƣợc nhà kinh tế Mỹ Robert Solow (1956) đề cập, do đó đƣợc biết với tên gọi phổ biến là mô hình Solow. 9 z Mô hình này bác bỏ quan điểm cố điển cho rằng sản xuất trong một tình trạng nhất định đòi hỏi những tỷ lệ nhất định về lao động và vốn, vốn có thể thay thế đƣợc nhân công, và trong quá trình sản xuất có thể có nhiều cách khác nhau trong việc kết hợp các yếu tố đầu vào. Từ đó, Solow đƣa ra khái niệm “Sự phát triển kinh tế theo chiều sâu”, có nghĩa là gia tăng số lƣợng vốn cho một đơn vị lao động trong sản xuất, còn sự gia tăng vốn phù hợp với sự gia tăng về lao động đƣợc gọi là “phát triển kinh tế theo chiều rộng” [17]. Các nhà kinh tế tân cổ điển cũng cho rằng tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, bằng cải tiến trong các phƣơng pháp sản xuất sẽ gia tăng khối lƣợng sản phẩm.
Nhƣng cũng giống nhƣ các nhà kinh tế cổ điển, các nhà kinh tế tân cổ điển cho rằng trong điều kiện thị trƣờng cạnh tranh, khi nền kinh tế có biến động thì sự linh hoạt về giá cả và tiền công là nhân tố cơ bản khôi phục nền kinh tế về vị trí sản lƣợng tiềm năng với việc sử dụng hết nguồn lao động. Họ cho rằng chính sách kinh tế của Chính phủ không thể tác động vào sản lƣợng, nó chỉ có thể ảnh hƣởng đến mức giá của nền kinh tế, do đó, Chính phủ có vai trò rất hạn chế trong phát triển kinh tế. Các nhà kinh tế tân cổ điển đã cố gắng giải thích nguồn gốc của sự tăng trƣởng thông qua hàm sản xuất. Hàm số này nêu lên mối quan hệ giữa sự tăng lên của đầu ra với sự tăng lên của các yếu tố đầu vào: vốn, lao động, tài nguyên và khoa học – công nghệ.
Y = f(K, L, R, T) Trong đó: Y: đầu ra (ví dụ GDP) K: vốn sản xuất L: số lƣợng lao động R: nguồn tài nguyên thiên nhiên T: khoa học – công nghệ Một dạng của kiểu phân tích này là hàm Cobb – Douglas, có dạng: Y = T. Sau khi biến đổi Cobb – Douglas thiết lập đƣợc mối quan hệ theo tốc độ tăng trƣởng của các biến số. g = t + αk + βl + γr Trong đó: g: tốc độ tăng trƣởng của GDP k, l, r: tốc độ tăng trƣởng của các yếu tố đầu vào t: phần dƣ còn lại, phản ánh tác động của khoa học Hàm sản xuất Cobb – Douglas cho biết bốn yếu tố cơ bản tác động đến tăng trƣởng kinh tế và cách thức tác động của bốn yếu tố này là khác nhau giữa các yếu tố K, L, R với yếu tố T. Ý nghĩa của mô hình tăng trƣởng Solow: i) Các nƣớc nghèo có tiềm năng tăng trƣởng nhanh; ii) Khi thu nhập quốc gia tăng lên, tăng trƣởng có xu hƣớng chậm lại; iii) Nếu có chung những tính chất quan trọng, các nƣớc nghèo có tiềm năng đuổi kịp các nƣớc giàu; iv) Tiếp thu công nghệ mới là yếu tố quyết định để duy trì tăng trƣởng bền vững.
Các nhà kinh tế học vận dụng mô hình này vào việc phân tích và dự đoán tăng trƣởng kinh tế của các quốc gia.