Phần mở đầu Các ký hiệu viết tắt Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái. Phân tích chính sách tỷ giá hối đoái của Trung Quốc trước và sau khi gia nhập WTO (1979-2008). Một số gợi ý về giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tỷ giá hối đoái ở Việt Nam từ kinh nghiệm Trung Quốc.
Tài liệu tham khảo Phụ lục z 11 CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1.1 TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Nó là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia. Theo Nghị định của Chính phủ số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành pháp lệnh ngoại hối thì “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt nam”.1 Tất cả các quốc gia đều quan tâm tới vấn đề tỷ giá bởi lẽ vai trò của nó như là một bộ phận quan trọng trong hệ thống công cụ kinh tế vĩ mô.
Thật vậy, vai trò của tỷ giá chủ yếu được thể hiện ở hai điểm cơ bản sau: Thứ nhất: Tỷ giá tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu. Thứ hai: Tỷ giá sẽ có tác động gián tiếp đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như: mặt bằng giá cả trong nước, lạm phát, khả năng sản xuất, công ăn việc làm, đầu tư nước ngoài, nợ nước ngoài… Có thể nói, tỷ giá hối đoái là một loại giá cả, có vai trò quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế, bởi lẽ bất cứ sự thay đổi dù là nhỏ của tỷ giá hối đoái cũng sẽ tác động ngay đến hai nhóm mục tiêu quan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô là: mục tiêu cân bằng bên trong (đó là công ăn việc làm đầy đủ và giá cả ổn định) và mục tiêu cân bằng bên ngoài (đó là sự cân bằng cán cân vãng lai).2 Phân loại tỷ giá 1 Trích khoản 1, Điều 3 Giải thích từ ngữ z 12 Có nhiều loại tỷ giá, dựa vào các tiêu chí phân loại khác nhau.1 Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối Tỷ giá mua vào: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá. Tỷ giá bán ra: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá. Tỷ giá giao ngay: Là tỷ giá được thoả thuận hôm nay nhưng việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không có thoả thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ hai).
Tỷ giá kỳ hạn: Là tỷ giá được thoả thuận ngay hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó (từ ba ngày làm việc trở lên). Tỷ giá mở cửa: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày. Tỷ giá đóng cửa: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng được giao dịch trong ngày. Tỷ giá chéo: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba (còn gọi là đồng tiền trung gian).2 Căn cứ vào cơ chế điều hành chính sách tỷ giá Tỷ giá chính thức: Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ.
Tỷ giá chợ đen: Là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung - cầu trên thị trường chợ đen quyết định. Tỷ giá cố định: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ dao động nhất định hoặc không có biên độ. Tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung - cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp. Tỷ giá thả nổi có điều tiết: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành z 13 can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế.3 Căn cứ vào tính chất tác động đến thương mại quốc tế a) Tỷ giá danh nghĩa song phương: Bilateral Nominal Exchange Rate - NER Tỷ giá danh nghĩa song phương là tỷ giá phổ biến được sử dụng hàng ngày trong các giao dịch trên thị trường ngoại hối.
Nói cách khác, nó chính là tỷ lệ trao đổi số lượng tuyệt đối giữa hai đồng tiền. Như vậy, NER là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá và dịch vụ giữa chúng. Những thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa song phương thường được biểu diễn dưới dạng chỉ số: t e= .1) 0 Tỷ giá được xác định theo công thức là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài so với các đơn vị tiền tệ trong nước. Đây cũng là cách hiểu xuyên suốt trong nội dung luận văn, phổ biến là giá của một đơn vị tiền tệ Hoa Kỳ so với các đơn vị tiền tệ Trung Quốc.
Trong đó: e: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương. Et: Tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm t. Eo: Tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm gốc. Chính vì tỷ giá danh nghĩa chưa đề cập đến tương quan sức mua giữa 2 đồng tiền, do đó đối với mỗi quốc gia, tỷ giá danh nghĩa thay đổi chưa hẳn đã tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá.
Cho nên, khi nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ giá đến xuất nhập khẩu người ta sử dụng khái niệm “Tỷ giá thực”. b) Tỷ giá thực song phương: Bilateral Real Exchange Rate – RER Tỷ giá thực song phương là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa song phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và nước ngoài. Do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và z 14 ngoại tệ. Tỷ giá thực dạng tuyệt đối: (Tỷ giá thực trạng thái tĩnh – tại 1 thời điểm) Tỷ giá thực trạng thái tĩnh được xác định theo công thức: .2) Trong đó: ER: Tỷ giá thực song phương (dạng chỉ số).
E: Tỷ giá danh nghĩa song phương. P: Giá cả của rổ hàng hoá trong nước tính bằng nội tệ. P*: Giá cả của rổ hàng hoá nước ngoài tính bằng ngoại tệ. Tỷ giá thực dạng tương đối: (Tỷ giá thực trạng thái động – từ thời điểm này sang thời điểm khác) Công thức (PT 1.2) là dạng tuyệt đối của tỷ giá thực (hay còn gọi là trạng thái tĩnh), nghĩa là ta chỉ quan sát và tính toán được tỷ giá thực tại một thời điểm.
Hơn nữa, công thức trạng thái tĩnh chỉ tồn tại và có ý nghĩa về mặt lý thuyết, bởi vì hiện nay các quốc gia không tính toán và không công bố mức giá của một rổ hàng hoá nào (P, P*). Thay vào đó, họ công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Chính vì vậy, để tính toán và quan sát được sự thay đổi của tỷ giá thực từ thời gian này sang thời gian khác, người ta sử dụng Tỷ giá thực dạng tương đối. CPI 0* e 0 Rt = e 0 t t 100% (PT 1.3) CPI 0t Trong đó: e0Rt : Chỉ số tỷ giá thực tại thời điểm t so với thời điểm 0 e0t : Chỉ số tỷ giá danh nghĩa tại thời điểm t so với thời điểm 0 t : Chỉ số giá ở nước ngoài tại thời điểm t so với thời điểm 0 CPI0* CPI 0t : Chỉ số giá ở trong nước tại thời điểm t so với thời điểm 0 c) Tỷ giá danh nghĩa đa phương: Nominal Effective Exchange Rate – NEER Tỷ giá danh nghĩa đa phương (tỷ giá trung bình) phản ánh sự thay đổi giá trị của một đồng tiền với tất cả các đồng tiền còn lại (hay một rổ các đồng tiền z 15 đặc trưng) và được biểu diễn dưới dạng chỉ số.
Ta có công thức tính NEER như sau: n NEERi = eij w j (PT 1.4) j=1 Trong đó: NEER : Tỷ giá danh nghĩa đa phương. e : Chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương. w : Tỷ trọng của thương mại song phương. i : kỳ tính toán.
j : Số thứ tự của các tỷ giá song phương. Vì NEER là số trung bình của các chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương, cho nên NEER cũng thuộc loại tỷ giá danh nghĩa, tức chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa giữa nội tệ với các đồng tiền còn lại. d) Tỷ giá thực đa phương: Real Effective Exchange Rate – REER Tỷ giá thực đa phương (REER) được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước còn lại. Do đó, nó phản ánh được tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại và được tính theo công thức sau: CPI iW REERi = NEERi (PT 1.5) CPI iVN n Mà: CPI iW = CPI ij GDPj (PT 1.6) j=1 Trong đó: - CPIiw : Chỉ số giá tiêu dùng trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ.
- CPIiVN : Chỉ số giá tiêu dùng của nội tệ. - GDPj: Tỷ trọng Tổng sản phẩm quốc dân của quốc gia j so với các quốc gia có quan hệ thương mại. - i : Kỳ tính toán. - j : Số thứ tự của các đồng tiền trong rổ.
z 16 Tác động của REER đến hoạt động xuất nhập khẩu cũng tương tự như tỷ giá thực song phương (ER), nhưng REER thể hiện tương quan sức mua của nội tệ so với tất cả các đồng tiền còn lại trong rổ. Do đó, nó phản ánh vị thế tổng hợp về sức cạnh tranh thương mại quốc tế của một nước với tất cả các nước còn lại. Trong khi đó, tỷ giá thực song phương, đơn thuần chỉ đề cập đến sức cạnh tranh thương mại quốc tế giữa hai quốc gia mà thôi. Vì có ý nghĩa quan trọng như vậy, nên hiện nay hầu hết các nước đều tính toán và công bố REER hàng năm.3 Các yếu tố cơ bản tác động đến tỷ giá hối đoái Sự tăng hay giảm của tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác nhau, trong đó phải kể đến một số yếu tố cơ bản sau: 1.