Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển thiết chế ba bên trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về thiết chế ba bên trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với thiết chế ba bên trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THIẾT CHẾ BA BÊN TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm về quan hệ ba bên và sự cần thiết của thiết chế ba bên trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay 1. Khái niệm về quan hệ ba bên i) Quan hệ lao động Theo từ điển Luật học thì QHLĐ là quan hệ xã hội hình thành giữa người lao động và người sử dụng lao động phát sinh trên cơ sở hợp đồng lao động.
Đây là QHLĐ đặc trưng của nền kinh tế thị trường phát triển đồng bộ với sự phát triển của nền kinh tế, còn được gọi là QHLĐ làm công ăn lương để phân biệt với QHLĐ của công chức nhà nước và một số QHLĐ khác. Trong nền kinh tế thị trường, luật lao động chủ yếu điều chỉnh QHLĐ này [5]. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa QHLĐ (industrial relations) là “những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những NLĐ và NSDLĐ tại nơi làm việc, cũng như các mối quan hệ giữa đại diện của họ với Nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như tuyển dụng, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, vệ sinh, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép, các vấn đề phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật”.
Về phương diện khoa học, nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm “QHLĐ”. Theo Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng – Nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thì QHLĐ là khái niệm chỉ xuất hiện trong kinh tế thị trường và gắn liền với thị trường lao động, diễn ra trong quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh. Đó là sự tương tác giữa các chủ thể về việc làm, tiền lương, BHXH và các điều kiện làm việc khác thông qua cơ chế thoả thuận giữa các bên trong quá trình lao động sản xuất, kinh doanh trên cơ sở quy định của pháp luật. QHLĐ không đơn thuần là quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ, mà là tổng hợp các mối quan hệ trong thị trường lao động với nhiều chủ thể liên quan chặt chẽ với nhau về quyền và lợi ích, trong đó chủ yếu là Nhà nước, NSDLĐ (đại diện NSDLĐ) và NLĐ (đại diện NLĐ) [11].
Như vậy, về phương diện từ điển học và phương diện khoa học, dù cách tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau nhưng đều thể hiện khái niệm về QHLĐ là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa NLĐ và NSDLĐ. ii) Quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường hình thành nên mố i quan hệ đố i tác xã hội mà chủ yế u là mố i quan h ệ hai bên giữa NLĐ và NSDLĐ, hai đố i tác này ở hai vi ̣trí khác nhau trong xã h ội nên có sự khác nhau nhấ t đinh ̣ về lơ ̣i ích kinh t ế - xã hội. Do đó , viê ̣c đảm bảo hài hòa mố i quan h ệ giữa hai bên đang là vấ n đề quan tro ̣ng nhấ t trong xã h ội có nề n kinh t ế thị trường. Mố i quan hệ hài hòa, hơ ̣p lý nà y phải dựa vào Hiế n pháp , pháp luật do chủ thể thứ ba là Nhà nư ớc ban hành và làm trọng tài phân xử.
Từ đó , Nhà nước pháp quyề n là nhân tố quan tro ̣ng nhấ t cho mố i quan hệ ba bên củng cố , phát triển. Vì vậy, có thể nói quan hệ ba bên là mối quan hệ xuất phát từ sự tương tác giữa Nhà nước, đại diện NLĐ và đại diện NSDLĐ về QHLĐ ở cấp quốc gia nhằm bảo đảm hài hoà lợi ích giữa các bên. Quan hệ ba bên bao gồm 03 đặc điểm cơ bản: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhà nước pháp quyền là nền tảng của mối quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước là đại diện và bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị xã hội.
Bản chất xã hội của nhà nước thể hiện ở chỗ nhà nước phục vụ cho ai đều tác động đến xã hội, đến toàn bộ cộng đồng. Nhà nước là chủ thể quan trọng nhất trong quan hệ xã hội, là nhân tố đảm bảo cho quyền lợi của giai cấp thống trị trong xã hội. Sự tồn tại và phát triển của nhà nước chính là nền tảng vững chắc cho quan hệ xã hội, quan hệ ba bên. - Quan hệ ba bên trong kinh tế thị trường là quan h ệ hữu cơ, bình đẳng cùng phát triển.
Trong xã hội có nề n kinh t ế thị trường thì viê ̣c đảm bảo quyề n lơ ̣i vâ ̣t chấ t, tinh thầ n, sự bình đẳ ng giữa các giai c ấp, các cộng đồng là bư ớc tiế n bô ̣ lớn, là nhu cầu bức thiết của nhân dân lao đ ộng. Do đó, quan hệ ba bên trong nề n kinh t ế thị trường phải duy trì củng cố và phát tri ển tính hữu cơ , bình đẳ ng của các đố i tác xã hội. Sự phát triển của nề n kinh tế thị trường nói riêng và xã hội loài người nói chung đã làm cho mố i quan h ệ ba bên được củng cố và phát tri ển. Trên cơ sở đó hình thành ba chủ thể chính của quan h ệ ba bên là: NSDLĐ, NLĐ, Nhà nước.
- Truyền thống văn hóa và điều kiện kinh tế - xã hội tác động tới hình thái và nội dung của quan hệ ba bên. Quan hệ ba bên hình thành, phát triển và vận hành cùng với quy luật phát triển của xã hội, một xã hội văn minh, tiến bộ lấy con người làm đối tượng, nhân tố cho mọi hành động. Tuy nhiên, quan hệ ba bên sẽ có hình thái và nội dung khác nhau, tùy thuộc vào chế độ chính trị - xã hội, vào truyền thống văn hóa và điều kiện kinh tế, xã hội của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong nền kinh tế thị trường, truyền thống văn hóa, đạo đức làm cho nhận thức và tư duy của các nhóm xã hội cao hơn, tiến bộ hơn.
Quan hệ ba bên có được tính hợp lý xã hội, sự hòa bình và đồng thuận trên cơ sở các thỏa ước và hợp đồng của các bên, hạn chế các mâu thuẫn và xung đột. Điều kiện kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến hình thái và nội dung của quan hệ ba bên. Nếu chế độ xã hội đó là xã hội bóc lột, bảo vệ quyền lợi cho một thiểu số thì chắc chắn, quan hệ ba bên luôn căng thẳng, mâu thuẫn giữa các giai tầng, luôn chứa đựng nguy cơ xung đột. Các cuộc đình công, bãi công, các tranh chấp lao động và cao hơn nữa là các biến động xã hội sẽ diễn ra.
Quan hệ ba bên lành mạnh làm cho nền kinh tế - xã hội phát triển, của cải vật chất làm ra được nhiều hơn, sự phân phối hợp lý và công bằng có được đối với mọi người, lợi ích của cá nhân được thỏa mãn ở những nhu cầu nhất định và hài hòa thống nhất với lợi ích của toàn xã hội. Quá trình cải cách kinh tế - xã hội sẽ cải thiện địa vị kinh tế - xã hội cho nhân dân lao động. Hệ thống luật pháp và kiến trúc thượng tầng xã hội có những chủ trương, chính sách điều hòa quan hệ ba bên, dung hòa được lợi ích của các chủ thể. iii) Quan hệ ba bên trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Từ năm 1986 nền kinh tế Việt Nam bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Đó là điều kiện và tiền đề kinh tế quan trọng để hình thành quan hệ ba bên. Việt Nam cũng thừa nhận quan hệ ba bên. Điều 156 BLLĐ quy định: “Tổng LĐLĐ Việt Nam, công đoàn các cấp tham gia với cơ quan nhà nước và đại diện của NSDLĐ bàn bạc, giải quyết các vấn đề về QHLĐ”. Tuy nhiên, quan hệ ba bên ở Việt Nam được quan niệm là loại quan hệ tương tác giữa các chủ thể tuy có tính độc lập tương đối nhưng trong một hệ thống chính trị thống nhất, trong một thể chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ [10].
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sự cần thiết của thiết chế ba bên trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay. i) Căn cứ thực tiễn Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua thị trường lao động ở nước ta phát triển nhanh chóng, cùng với đó QHLĐ mới lành mạnh từng bước hình thành trong doanh nghiệp, góp phần giúp doanh nghiệp ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, thời gian qua, QHLĐ trong doanh nghiệp và mối quan hệ tương tác, phối hợp giữa các bên diễn ra chưa thật sự hài hòa, lành mạnh, tình trạng tranh chấp lao động dẫn đến đình công tự phát, không đúng thủ tục và trình tự pháp luật lao động có xu hướng gia tăng, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội và môi trường đầu tư, gây thiệt hại cho NLĐ, cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế.
Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì số vụ đình công diễn ra theo xu thế tăng dần trong suốt giai đoạn từ 1995 đến năm 2006, cụ thể năm 1995 chỉ có 60 vụ đình công, năm 2003 có khoảng 142 vụ nhưng đến năm 2006 thì đã tăng lên 390 vụ.