PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thay đổi sinh kế cho người dân trong điều kiện ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đặc biệt là loại hình xâm nhập mặn tác động trực tiếp đến đời sống của người dân cả nước nói chung trong đó người dân của huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre chịu ảnh hưởng nặng nề nhất; loại hình thiên tai ảnh hưởng nặng nhất là xâm nhập mặn như hiện nay được xem là một trong những thách thức lớn của nhân loại trong thế kỷ XXI, nước mặn từ biển đông thâm nhập vào đất liền qua các con sông Cổ Chiên, Hàm Luông. Với những tác động tiềm tàng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, nước mặn xâm nhập sâu, nắng nóng và ngày càng gay gắt đã và đang là một trong những vấn đề lớn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ứng phó với tác động của nước mặn xâm nhập sâu đòi hỏi phải nhận dạng, đánh giá mức độ tổn thương đến sinh kế của người dân, chuyển đổi từ vùng ngọt, lợ sang mặn, nhằm xây dựng các giải pháp thích ứng và giảm thiểu cả quy mô toàn cầu, vùng, quốc gia và địa phương.
Việt Nam là quốc gia tiếp giáp với biển khá nhiều. Với lợi thế địa lý của vùng đới bờ Châu Á – Thái Bình Dương vùng ven biển của Việt Nam đã trở thành nơi sinh sống của đông đảo dân cư, sinh kế của họ vì thế cũng chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên biển. Tuy nhiên, sự gia tăng các tác động tiềm tàng từ xâm nhập mặn là một trong những rủi ro gia tăng sự tổn thương đối với sinh kế của cư dân ven biển. Trên thực tế, người dân sinh sống ở các vùng ven biển là đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước tác động của xâm nhập mặn do sống trong vùng địa lý dễ bị thiên tai như nguy cơ sạt lở, nước mặn xâm nhập sâu, kéo dài.
Hơn nữa khả năng thích ứng kém của người dân do sống về nông nghiệp, thiếu nguồn lực để đương đầu với các rủi ro cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho cư dân vùng biển càng khó khăn hơn để duy trì và phát triển sinh kế bền vững. Do vậy giảm thiểu tác động cũng như nâng cao khả năng năng lực của cộng đồng thích ứng với xâm nhập mặn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ và của cả cộng đồng đặc biệt là những người hoạch định các chính sách, của tỉnh Bến Tre. Hiện nay, biến đổi khí hậu và hậu quả của nó không còn là dự báo, là hiện tượng nữa mà đã trở thành một vấn đề bức thiết được các nước trên thế giới và cả Việt Nam quan tâm, xâm nhập mặn là một trong những hệ quả tất yếu của việc biến đổi khí hậu. Những năm gần đây, tình trạng xâm nhập mặn đã trở nên nặng nề hơn ở các tỉnh đồng bằng 1 2 sông Cửu Long, trong đó có tỉnh Bến Tre mà huyện Thạnh Phú được đánh giá là một trong ba huyện chịu tác động nặng nề nhất.
Vì vậy đây là những lý do đã thôi thúc tôi quyết định lựa chọn và tiến hành thực hiện đề tài Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ thay đổi sinh kế cho ngƣời dân trong điều kiện xâm nhập mặn tại huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre nhằm góp phần nâng cao năng lực cộng đồng khả năng thích ứng và giảm nhẹ tác động của loại hình thiên tai xâm nhập mặn đến sinh kế của người dân tại huyện Thạnh Phú là huyện ven biển của tỉnh Bến Tre. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 2. Nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn Biến đổi khí hậu đặc biệt là sự tác động, hậu quả của nó không còn là dự báo, là hiện tượng nữa mà đã trở thành vấn đề cấp thiết, quan trọng cần được giải quyết đối với các nước trên thế giới.
Để chủ động thích ứng và khắc phục những hậu quả nghiêm trọng của biến đổi khí hậu gây ra, đã có rất nhiều các nhà khoa học đã bắt tay vào tiến hành nghiên cứu nhằm tìm ra thực trạng, nguyên nhân từ đó tìm ra các giải pháp để khắc phục. Đứng trước tác động tiêu cực của BĐKH, Liên hợp quốc cũng đã ra một bản Công ước khung về Biến đổi khí hậu (UNFCCC). Tuy nhiên, hiệu quả mà nó mang lại chưa cao, vì mỗi nước có các phân tích và tư suy khác nhau từ đó dẫn đến các cách triển khai thực hiện không giống nhau. Trong bài viết “Ứng phó với BĐKH qua các kỳ COP: Ít tương đồng, nhiều khác biệt” tác giả Quang Nguyễn (2020), nghiên cứu sinh tại đại học Victoria, Wellington, New Zealand đã đề cập đến tình hình thực hiện Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH của các nước tham gia.
Qua phân tích tác giả thấy rằng hiện nay các nước đang có những quan điểm và cách tiếp cận về BĐKH khác nhau. Điều này dẫn tới một thực trạng là cùng với một vấn đề, với một công ước chung nhưng hiệu quả của các nước thực hiện lại có sự cách biệt. Cụ thể, hiện nay các quốc gia trên thế giới đang được phân chia ở ba nhóm khác nhau trong các thương thảo về BĐKH: nhóm 1 - Châu Âu (đại diện là: Đức, Pháp, Anh); nhóm 2 - Mỹ cùng các nước lớn đang phát triển (tiêu biểu là: Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Phi và Brazil) gọi 3 tắt là BASIC; nhóm 3 - các thành viên còn lại (trong đó có Việt Nam). Sự khác biệt thể hiện rõ nét nhất giữa Mỹ, Trung Quốc và Châu Âu.
Dự án nhằm tăng cường kỹ năng của chính quyền và người dân địa phương trong việc lập kế hoạch và thích ứng với các hiểm họa khí hậu trong tương lai tại tám tỉnh ven biển từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Băng- Cốc bao gồm: Thành phố Hồ Chí Minh (Cần Giờ), Bến Tre, Sóc Trăng và Kiên Giang ở Việt Nam; Kampot và Koh Kong ở Campuchia; Trat và Chanthaburi ở Thái Lan. Đến nay, dự án đã phát triển được mạng lưới, tổ chức các chuyến thăm quan học tập và 2 diễn đàn thường niên để chia sẻ kiến thức với 12 tỉnh còn lại ở suốt dải ven biển từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Băng Cốc (IUCN, 2014). Trên thế giới, Việt Nam là một trong những nước được đánh giá là chịu hậu quả nghiêm trọng nhất do tác động của BĐKH với các loại hình thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới, nắng nóng, xâm nhập mặn, dịch bệnh. Những năm qua Việt Nam đã chịu những ảnh hưởng rất nặng nề từ BĐKH như thiên tai, dịch bệnh, thời tiết thay đổi thất thường, xâm ngập mặn.
những điều này đã khiến cho người dân phải chịu đựng rất nhiều đau thương và mất mát cả về con người và tài sản. Đặc biệt là Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới, đây là một nguồn thu không nhỏ và cũng để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia đối với chúng ta. Nhưng hiện nay, BĐKH đang đe dọa rất lớn tới nền SXNN của nước ta. Điều này sẽ dẫn tới những nguy cơ hiện hữu đối với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo và các mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam.
Nghiên cứu về thích ứng với biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn Đối mặt với những tác động cũng như hậu quả mang lại của BĐKH con người cần phải học được cách đối mặt và thích ứng được với nó. Ở mỗi khu vực sẽ có những sự BĐKH khác nhau do đó cần có đánh giá năng lực thích ứng với BÐKH của từng cộng đồng. Nhóm tác giả Wall và Marzall (2006) đã triển khai một nghiên cứu về “Năng lực thích ứng với BÐKH của cộng đồng khu vực nông thôn Canada” đã được phân tích dựa trên Khung năng lực thích ứng đưa ra bởi Medis và cộng sự năm 2003 đã có nghiên cứu vấn đề này. 4 Cũng nghiên cứu về sự thích ứng với BĐKH, năm 2009 tổ chức CARE international đã xuất bản cuốn sổ tay về phân tích tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực ứng phó với BÐKH.
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung phân tích số liệu có liên quan về giới, về sinh kế và tiếp cận quyền dựa vào cộng đồng (Daza, 2009). Sự thích ứng được thể hiện qua các hoạt động, biện pháp thích ứng nhằm giảm nhẹ kỹ năng bị tổn thương do BĐKH gây ra, hầu hết các biện pháp thích ứng được chia ra thành các loại như thích ứng mang tính phòng ngừa, thích ứng đối phó, thích ứng mang tính tự phát, thích ứng có kế hoạch, thích ứng của khu vực tư nhân, thích ứng của khu vực cộng đồng, thích ứng của khu vực công (theo Smith and Wandel (2006); Osbahr và cs (2008); ADB (2009) and USAID (2009). Qua quá trình tìm hiểu và phân tích về sự thích ứng của người dân, có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra để hỗ trợ người dân thích nghi được với thực trạng BĐKH. Trong đó, Ban liên chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007) đã đề cập và miêu tả 228 phương pháp thích ứng khác nhau.
và chia các phương pháp thích ứng ra làm 8 nhóm: (1) Chấp nhận tổn thất, Chia sẻ tổn thất, (3) làm thay đổi nguy cơ, (4) ngăn ngừa các tác động, (5) thay đổi cách sử dụng, (6) thay đổi/chuyển địa điểm, (7) nghiên cứu, (8) Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi. Nghiên cứu tại Việt Nam Nghiên cứu về iến đổi kh hậu v xâm nhập mặn Việt Nam là một quốc gia có chiều dài tiếp giáp với biển trên 3.260 km, có nhiều hòn đảo tiếp giáp hoàn toàn là biển nằm rải rác ở phía Đông và Tây biển đông, nên Việt Nam cũng là quốc gia được xếp vào nhóm các quốc gia có tiếp giáp biển nhiều nhất trên thế giới.