Tổng quan nghiên cứu

Thống kê toàn cầu vào năm 2018 cho thấy Việt Nam xếp ở vị trí thứ 7 trong danh sách các quốc gia có lượng người dùng mạng xã hội lớn nhất với khoảng 58 triệu tài khoản hoạt động. Đáng chú ý, nhóm người dùng trẻ trong độ tuổi từ 13 đến 24 chiếm tới 71%, trung bình cứ 3 giây lại có một tài khoản mới được đăng ký tại thị trường Việt Nam. Sự bùng nổ của mạng xã hội Facebook tạo ra không gian kết nối không giới hạn nhưng cũng kéo theo nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe tinh thần, thể chất và hành vi đạo đức của thanh thiếu niên, đặc biệt là nhóm học sinh bậc trung học cơ sở.

Đề tài tập trung giải quyết vấn đề lạm dụng mạng xã hội và thói quen sống ảo đang diễn ra phổ biến ở lứa tuổi 11 đến 15 tuổi, khi kỹ năng chọn lọc thông tin và khả năng tự kiểm soát của các em còn nhiều hạn chế. Mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ thực trạng sử dụng Facebook, phân tích các yếu tố tác động và xác định hệ thống vai trò chuyên môn của nhân viên công tác xã hội trong việc đồng hành, trợ giúp học sinh sử dụng nền tảng này an toàn, tích cực.

Phạm vi nghiên cứu được triển khai thực địa tại trường Trung học cơ sở Chu Văn An, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên trong khoảng thời gian từ tháng 01/2019 đến tháng 07/2019. Khách thể nghiên cứu bao gồm 204 học sinh đại diện cho 4 khối lớp từ khối 6 đến khối 9.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc lượng hóa hành vi trực tuyến của học sinh, chỉ ra 85% số em được khảo sát có tài khoản và sử dụng Facebook thường xuyên. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn cho ngành công tác xã hội học đường, hỗ trợ nhà trường và các nhà hoạch định chính sách xây dựng quy trình can thiệp kịp thời, hướng tới mục tiêu giảm thiểu trên 30% các tác động tiêu cực về tâm lý và học lực cho học sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Thuyết tháp nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow để luận giải động cơ sử dụng mạng xã hội của thanh thiếu niên. Hệ thống nhu cầu gồm 5 tầng bậc: nhu cầu sinh học cơ bản, nhu cầu an toàn, nhu cầu quan hệ xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định bản thân. Ở lứa tuổi trung học cơ sở, nhu cầu thiết lập các mối quan hệ xã hội và nhu cầu khẳng định lòng tự trọng trở nên mãnh liệt. Các tương tác trực tuyến như đăng dòng trạng thái, nhận lượt thích và bình luận đóng vai trò như những phần thưởng tinh thần tức thì, kích thích các em gắn bó liên tục với mạng xã hội.

Bên cạnh đó, Thuyết hành vi với mô hình kích thích và phản ứng của John B. Watson cùng các mở rộng về hành vi xã hội của George H. Mead được áp dụng để phân tích sự hình thành thói quen mạng. Hành vi sử dụng Facebook được cấu thành từ 4 yếu tố then chốt: kiến thức, niềm tin, thái độ và thực hành cụ thể. Nghiên cứu cũng chuẩn hóa 4 khái niệm cốt lõi: Mạng xã hội Facebook, Học sinh trung học cơ sở từ 11 đến 15 tuổi, Công tác xã hội học đường và Vai trò của nhân viên công tác xã hội theo quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tại Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo khoa học quốc tế, chủ trương giáo dục và nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp trong 7 tháng thực địa từ tháng 01/2019 đến tháng 07/2019.

Quy mô mẫu gồm 204 học sinh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên theo tỷ lệ đồng đều giữa 4 khối lớp 6, 7, 8 và 9 tại trường Trung học cơ sở Chu Văn An. Việc chọn mẫu phân tầng giúp phản ánh đầy đủ sự biến đổi tâm sinh lý và thói quen công nghệ qua từng độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi.

Phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm: trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi chuẩn hóa, quan sát hành vi trực tiếp và phỏng vấn sâu cá nhân. Dữ liệu định lượng được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích tương quan chéo được lựa chọn nhằm đo lường chính xác mối quan hệ giữa tổng thời lượng sử dụng mạng xã hội với kết quả học tập và các chỉ số sức khỏe của học sinh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 204 học sinh trường Trung học cơ sở Chu Văn An ghi nhận 85% học sinh có tham gia sử dụng Facebook (tương đương 173 học sinh), khẳng định mạng xã hội đã trở thành một phần quen thuộc trong đời sống hàng ngày của các em.

Về phân bổ thời gian truy cập, có 24,0% học sinh (50 em) sử dụng Facebook dưới 1 tiếng mỗi ngày. Ngược lại, tỷ lệ học sinh online trên 3 tiếng mỗi ngày chiếm gần 25%, tạo nên sự phân hóa rõ rệt trong việc phân bổ quỹ thời gian giữa giải trí trực tuyến và học tập.

Dữ liệu phân tích tương quan chỉ ra tác động tiêu cực trực tiếp của thời gian lướt mạng đến kết quả học tập. Trong nhóm học sinh sử dụng Facebook dưới 1 tiếng mỗi ngày có tới 49 em đạt học lực giỏi. Tuy nhiên, số lượng học sinh giỏi giảm dần khi thời lượng online tăng lên; đồng thời tỷ lệ học sinh đạt học lực khá và trung bình tăng vọt hơn 35% ở nhóm sử dụng Facebook trên 3 tiếng mỗi ngày.

Về mặt sức khỏe và tâm lý, hơn 60% học sinh trong nhóm sử dụng mạng xã hội cường độ cao phản ánh tình trạng mệt mỏi, nhức mỏi mắt, căng thẳng thần kinh và suy giảm khả năng tập trung trên lớp. Đồng thời, trạng thái cảm xúc của các em phụ thuộc lớn vào mức độ tương tác ảo, biểu hiện qua cảm giác hụt hẫng khi bài viết nhận được ít lượt thích hoặc chia sẻ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên (11-15 tuổi). Đây là giai đoạn quá độ đầy khủng hoảng với sự xuất hiện đồng thời của tính trẻ con và tính người lớn. Các em có khát vọng độc lập, muốn khẳng định bản thân và thoát ly khỏi sự kiểm soát của cha mẹ. Facebook trở thành công cụ đắc lực để giao tiếp với bạn bè đồng trang lứa và thể hiện cái tôi cá nhân.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của Bahire Efe tại Thổ Nhĩ Kỳ và các khảo sát tại Đại học Michigan (Hoa Kỳ) khi chỉ ra rằng việc tương tác mạng xã hội quá mức dễ dẫn đến tâm trạng tiêu cực, sự đố kỵ xã hội và giảm mức độ thỏa mãn với cuộc sống thực.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng minh họa sự biến thiên nghịch chiều giữa số giờ online (dưới 1 giờ, 1 đến 2 giờ, 2 đến 3 giờ, trên 3 giờ) với 4 mức xếp loại học lực (Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu), kết hợp biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ 85% học sinh sử dụng nền tảng. Điều này khẳng định tính cấp thiết của việc bố trí nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp trong nhà trường để thực hiện các vai trò: người giáo dục kỹ năng, người tham vấn tâm lý, người kết nối nguồn lực và người biện hộ chính sách cho học sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thành lập phòng tham vấn học đường chuyên trách do nhân viên công tác xã hội phụ trách tại trường Trung học cơ sở Chu Văn An trước tháng 12/2020. Phòng tham vấn đặt mục tiêu tiếp nhận và hỗ trợ can thiệp tâm lý chuyên sâu cho 100% học sinh có biểu hiện nghiện mạng xã hội hoặc suy giảm kết quả học tập.

Triển khai chuỗi chuyên đề giáo dục kỹ năng số và văn hóa ứng xử trên không gian mạng với tần suất 2 tháng một lần. Chương trình hướng tới mục tiêu nâng cao nhận thức và trang bị kỹ năng bảo mật thông tin cá nhân cho trên 95% trong tổng số hơn 200 học sinh của toàn trường.

Xây dựng quy chế phối hợp đa bên giữa Nhà trường, Gia đình và Nhân viên công tác xã hội thông qua các kênh trao đổi định kỳ hàng tháng và sổ liên lạc điện tử. Mục tiêu cụ thể là kiểm soát và kéo giảm tỷ lệ học sinh sử dụng Facebook trên 3 giờ mỗi ngày xuống dưới mức 10% trong năm học tiếp theo.

Tổ chức các câu lạc bộ ngoại khóa đa dạng về thể thao, văn nghệ, kỹ năng sống và công tác tình nguyện với lịch sinh hoạt đều đặn 2 tuần một lần do Đoàn Đội và nhân viên công tác xã hội điều phối. Sân chơi lành mạnh này kỳ vọng thu hút trên 80% học sinh tham gia, giúp chuyển hóa năng lượng của các em vào các hoạt động thực tế thay vì đắm chìm trong thế giới ảo.

Đề xuất Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Nguyên ban hành hướng dẫn chuẩn hóa vị trí việc làm nhân viên công tác xã hội học đường theo Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH, triển khai thí điểm tại 100% các trường trung học cơ sở công lập trên địa bàn trong giai đoạn 2020-2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Ban Giám hiệu và Cán bộ quản lý giáo dục: Tài liệu cung cấp căn cứ thực chứng và giải pháp quản trị toàn diện để xây dựng mô hình trường học thân thiện, thiết lập vị trí việc làm công tác xã hội và ban hành quy định sử dụng thiết bị công nghệ hợp lý trong môi trường giáo dục phổ thông.

Nhân viên công tác xã hội và Chuyên viên tham vấn học đường: Nguồn tham khảo giá trị về quy trình can thiệp cá nhân, kỹ thuật tham vấn nhóm và cách thức vận dụng các khung lý thuyết hành vi, lý thuyết nhu cầu vào việc hỗ trợ thanh thiếu niên đối phó với chứng nghiện Internet.

Giáo viên chủ nhiệm và Phụ huynh học sinh: Tài liệu giúp nâng cao hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi 11 đến 15 tuổi, nhận diện sớm các dấu hiệu rối loạn hành vi do mạng xã hội gây ra và trang bị phương pháp đối thoại cởi mở, không áp đặt đối với con em.

Học viên cao học, Sinh viên và Nhà nghiên cứu xã hội: Công trình là tài liệu học thuật mẫu mực về phương pháp luận nghiên cứu xã hội học thực nghiệm, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi khảo sát học sinh và quy trình xử lý dữ liệu tương quan trên phần mềm thống kê chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ học sinh trung học cơ sở sử dụng mạng xã hội hiện nay ở mức độ nào? Khảo sát thực tế tại trường Trung học cơ sở Chu Văn An cho thấy 85% trong tổng số 204 học sinh tham gia sử dụng Facebook. Tỷ lệ này phản ánh đúng bức tranh chung khi có khoảng 71% người dùng mạng xã hội tại Việt Nam nằm trong độ tuổi thanh thiếu niên từ 13 đến 24 tuổi.

Việc dùng Facebook trên 3 giờ mỗi ngày ảnh hưởng thế nào đến học tập? Số liệu khảo sát chỉ ra sự sụt giảm rõ rệt về thành tích học tập. Trong nhóm dùng dưới 1 giờ có tới 49 học sinh giỏi, nhưng con số này giảm mạnh ở nhóm online trên 3 giờ, đồng thời tỷ lệ học sinh xếp loại khá và trung bình tăng thêm hơn 35% do thời gian tự học bị chiếm dụng.

Tại sao học sinh lứa tuổi 11 đến 15 tuổi dễ rơi vào tình trạng sống ảo? Học sinh trung học cơ sở đang trải qua giai đoạn khủng hoảng dậy thì, luôn khao khát khẳng định cái tôi và tìm kiếm sự thừa nhận từ bạn bè. Theo Thuyết nhu cầu Maslow, các lượt thích và bình luận trên mạng xã hội mang lại cảm xúc thỏa mãn tức thì, thúc đẩy các em tìm kiếm sự công nhận trên không gian ảo.

Nhân viên công tác xã hội học đường có vai trò khác biệt gì so với giáo viên chủ nhiệm? Nhân viên công tác xã hội là chuyên gia được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tham vấn tâm lý, kết nối nguồn lực và can thiệp hành vi dựa trên đạo đức nghề nghiệp theo Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH. Họ hỗ trợ học sinh giải tỏa khủng hoảng tâm lý mà không áp dụng các biện pháp kỷ luật mang tính hành chính.

Giải pháp nào giúp học sinh giảm thời gian sử dụng mạng xã hội hiệu quả nhất? Giải pháp bền vững là kết hợp giữa việc tham vấn cá nhân, tổ chức tập huấn kỹ năng số định kỳ 2 tháng một lần và tạo dựng các câu lạc bộ thể thao, văn nghệ thực tế với tần suất 2 tuần một lần, thu hút trên 80% học sinh tham gia sinh hoạt trực tiếp.

Kết luận

  • Công trình đã lượng hóa thành công thực trạng sử dụng mạng xã hội của 204 học sinh trường Trung học cơ sở Chu Văn An với 85% tỷ lệ học sinh tham gia nền tảng.
  • Chứng minh mối quan hệ tỷ lệ nghịch rõ nét giữa thời lượng truy cập mạng xã hội trên 3 giờ mỗi ngày với sự giảm sút học lực và gia tăng các vấn đề sức khỏe học đường.
  • Xác lập khung 7 vai trò cốt lõi của nhân viên công tác xã hội bao gồm giáo dục, kết nối, tham vấn, vận động nguồn lực, chăm sóc, tạo sự thay đổi và biện hộ chính sách.
  • Đề xuất lộ trình 5 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa gia đình, nhà trường và chuyên viên xã hội, định hướng triển khai hiệu quả trong giai đoạn 2020-2025.
  • Kêu gọi các cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý sớm hoàn thiện vị trí việc làm chuyên trách công tác xã hội học đường, tạo điểm tựa vững chắc giúp học sinh phát triển toàn diện trong kỷ nguyên số.