Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về vai trò nhà nước đối với đầu tư XDCB bằng vốn NSNN. Chương 2:Thực trạng vai trò nhà nước đối với đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Nam Định. Chương 3: Định hướng hướng và giải pháp chủ yếu tăng cường vai trò Nhà nước đối với đầu tư XDCB bằng vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Nam Định. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Những vấn đề lý luận về đầu tƣ XDCB bằng nguồn vốn ngân sách 1. Quan niệm về đầu tư xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn NSNN - Khái niệm đầu tư XDCB bằng vốn ngân sách nhà nước + Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản. Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nguồn lực phai hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ.
Những kết quả sẽ đạt được đó là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Đầu tư theo nghĩa hẹp, là đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã đầu tư để đạt được các kết quả đó. Như vậy, nếu xem xét trong phạm vi quốc gia thì phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp hay đầu tư phát triển chỉ những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. XDCB là hoạt động có chức năng tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất các ngành kinh tế thông qua các hoạt động xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hoá hay khôi phục các TSCĐ.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung đó là việc bỏ vốn tiến hành các hoạt động XDCB để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho nền kinh tế. 6 + Vốn ngân sách nhà nước. Trong lịch sử kinh tế thế giới, bất cứ một chủ thể kinh tế nào dù là cá nhân, tập thể, doanh nghiệp, hay Nhà nước cùng đều phải có những nguồn lực tài chính nhất định để phục vụ cho việc thực hiện những mục tiêu định hướng của mình. Đối với một Nhà nước thì nguồn lực tài chính đó là NSNN.
Ngân sách nhà nước với tư cách là một phạm trù kinh tế đã ra đời và tồn tại từ rất lâu. Là một công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước, NSNN xuất hiện dựa trên cơ sở hai tiền đề khách quan là vai trò kinh tế của Nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ. Nhà nước ra đời tất yếu kéo theo nhu cầu tập trung nguồn lực tài chính vào trong tay Nhà nước để làm phương tiện vật chất trang trải cho các chi phí nuôi sống bộ máy Nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội. Bằng quyền lực của mình, Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội.
Trong điều kiện kinh tế hàng hoá - tiền tệ, các hình thức tiền tệ trong phân phối như: thuế bằng tiền, vay nợ. được Nhà nước sử dụng để tạo lập quỹ tiền tệ riêng có: Quỹ ngân sách nhà nước. Trong hệ thống tài chính, NSNN là khâu chủ đạo, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của bộ máy quyền lực Nhà nước. Tại Việt nam, định nghĩa về NSNN được thể hiện rõ trong Luật Ngân sách: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ những khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”.
Ngân sách nhà nước về thực chất là kế hoạch thu, chi của Chính phủ được Quốc hội phê chuẩn và quyết định. Thu NSNN là số tiền Nhà nước huy động từ các đối tượng thông qua luật định và các chính sách mà không ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho các đối tượng nộp. Thu NSNN bao gồm: các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức, cá nhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; các 7 khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi được đưa vào cân đối ngân sách. Chi NSNN là số tiền Nhà nước sử dụng để duy trì phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo giữ vững chính quyền, từng bước nâng cao đời sống nhân dân lao động.
Luật NSNN đã quy định: “Chi Ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế xã hội. đảm bảo quốc phòng an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.” Vốn NSNN bao gồm cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, được hình thành từ tích luỹ của nền kinh tế và được Nhà nước bố trí trong kế hoạch ngân sách hàng năm để thanh toán cho các đơn vị thực hiện các công trình thuộc kế hoạch nhà nước. Từ các quan niệm trên, có thể định nghĩa đầu tư XDCB bằng vốn ngân sách nhà nước là việc dùng vốn ngân sách nhà nước tiến hành các hoạt động XDCB để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ nhằm phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho nền kinh tế. Đặc điểm và vai trò của đầu tư XDCB bằng vốn NSNN.
Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn Nhà nước. - Xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung nên đầu tư XDCB có đầy đủ các đặc điểm và các tính chất của hoạt động đầu tư. Trong đó nổi lên các đặc điểm cơ bản là đặc thù của hoạt động đầu tư XDCB đó là: Sản phẩm của đầu tư XDCB có tính cố định, nơi sản xuất cũng đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm .Tài sản cố định sẽ chịu tác động rất lớn của các điều kiện về địa lý, địa hình, môi trường kinh tế - xã hội nơi tạo ra nó. Sản phẩm XDCB chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu, thời tiết.
vì vậy quản lý hoạt động xây dựng cơ bản phải chú ý đến yếu tố khí hậu thời tiết. Thời gian XDCB và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu dài. Từ đặc điểm này, nên việc ứ đọng vốn dẫn đến thiệt hại lớn cho nền kinh tế vì khối lượng vốn đầu tư lớn và thời gian xây dựng lâu. Sản phẩm xây dựng cơ bản tồn tại lâu, nếu tác động từ các yếu tố trên tốt, chất lượng công trình tốt thì thành 8 quả hoạt động đầu tư XDCB càng phát huy tác dụng tốt trong thời gian dài và ngược lại.
Tính đơn chiếc và chu kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm riêng có của đầu tư XDCB. Dù thiết kế giống nhau, nhưng địa điểm xây dựng khác nhau, thời gian, khí hậu các vùng khác nhau dẫn đến sản phẩm không giống nhau hoàn toàn từ đó chi phí sản xuất cũng không giống nhau.Với đặc điểm này, mỗi dự án đầu tư cần có giải pháp quản lý khác nhau với phương thức và trình độ quản lý thay đổi linh hoạt cho phù hợp trong điều kiện cụ thể. - Vốn từ ngân sách Nhà nước cho hoạt động đầu tư XDCB là lớn, không thuộc tư nhân nên việc sử dụng không hợp lý vốn đầu tư và sự quản lý, giám sát thiếu chặt chẽ sẽ dễ dẫn đến các tệ nạn tham ô, lãng phí, thất thoát tài sản công và gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế đất nước. - Vốn từ ngân sách Nhà nước cho hoạt động đầu tư XDCB không chỉ lớn về số lượng mà còn thường được phân bổ theo dự toán chi hàng năm.
Vì vậy thời gian thi công và hoàn thiện công trình thường kéo dài. Trong điều kiện kinh tế thị trường với tác động của lạm phát sẽ dễ dẫn đến tình trạng trượt giá so với giá dự tính ban đầu vì vậy dễ gây khó khăn cho chủ đầu tư cũng như cho nhà thầu, có thể sẽ là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng công trình. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn NSNN Để đảm bảo nền kinh tế phát triển liên tục và bền vững, sản xuất kinh doanh được mở rộng, điều trước tiên và mang tính chiến lược là phải tiến hành hoạt động đầu tư XDCB. Đối với bất kỳ một phương thức sản xuất nào cũng đều đòi hỏi phải có cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng, đây là nhiệm vụ của hoạt động đầu tư XDCB.
Xét về bản chất của đầu tư phát triển, các lý thuyết kinh tế trên góc độ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cũng như lý thuyết kinh tế thị trường đều coi đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng. Đứng trên góc độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước, vai trò của đầu tư phát triển thể hiện ở các mặt sau: 9 - Tác động trên tổng cung, tổng cần của nền kinh tế. Về tổng cầu, đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. Theo số liệu của Ngân hàng thế giới, đầu tư chiếm khoảng 24-28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước giới.
Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Về tổng cung, khi các dự án đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên kéo theo sản lượng tiềm năng tăng và do đó giá cả sản phẩm giảm. Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng.