phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn còn bao gồm 2 chương: Chƣơng 1 - TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Chƣơng 2 - VẬN DUNG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VÀO PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỈNH BẮC GIANG HIỆN NAY 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 - TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1.Trí thức Việc xác định trí thức là ai, trí thức có những phẩm chất nổi bật gì có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc đưa ra các biện pháp, chính sách, chế độ đãi ngộ xứng đáng nhằm tôn vinh và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong xây dựng và phát triển đất nước. Theo cách hiểu nghĩa của từ: “trí” thuộc về hiểu biết (Science, savoir), “thức” thuộc về lương tri (conscience). Trí thức là những người biết mình, biết người, hiểu biết xã hội và phụng sự xã hội, gắn sự nghiệp của mình với sự phát triển xã hội, và do đó, trí thức phải là người có đức độ.
Vì vậy, khi nhắc đến “chuẩn” của trí thức, người ta thường nhấn mạnh đến một lượng kiến thức lớn, nhưng đồng thời lại nói đến tinh thần sáng tạo và tiêu chuẩn của đạo đức. Thuật ngữ “trí thức” có nguồn gốc từ tiếng La tinh: Intelligentia nghĩa là thông minh, có trí tuệ, hiểu biết. Từ những năm nửa sau thế kỷ XIX, khái niệm này trở nên thông dụng.Tchepanxky, hiện có trên 60 định nghĩa khác nhau về “trí thức”. Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia lại có những quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “trí thức”.
Chẳng hạn, Đại từ điển Bách khoa Liên Xô (1985) định nghĩa: “Trí thức là tầng lớp những người làm nghề lao động phức tạp chủ yếu là lao động phức tạp, sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hóa”. Trong từ điển Bách khoa triết học tiếng Nga, (1983) định nghĩa “trí thức” là “tầng lớp” những người làm nghề lao động phức tạp và thường có học vấn cao tương ứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hóa”. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng bàn khá nhiều và khá toàn diện về trí thức. Lênin viết: “Tôi dùng chữ trí thức, giới trí thức, để dịch những danh từ Đức Literat, Literatentum là những danh từ có nghĩa bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc (Tức là những người mà người Anh gọi là Brain worker), khác với những đại biểu của lao động chân tay” [64, tr.
Ở Việt Nam, một số từ điển cũng đã cung cấp những khái niệm trí thức. Từ điển Chủ nghĩa xã hội Khoa học xác định: Trí thức là “một nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó” [56, tr. Từ điển Triết học định nghĩa trí thức là “tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động phức tạp. Giới trí thức bao gồm: kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo, người làm công tác khoa học và một bộ phận lớn viên chức” [57, tr.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đưa ra một số những luận điểm về trí thức, qua đó cho thấy đầy đủ diện mạo về trí thức theo như quan niệm của Hồ Chí Minh. Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” viết tháng 10 năm 1947, với bút danh X.Z, Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa: “Trí thức là gì? Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự đấu tranh sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra.
Hai là sự hiểu biết đấu tranh dân tộc và xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác” [30, tr. Như vậy, với Hồ Chí Minh, trí thức gắn liền với tri thức, phẩm chất quan trọng nhất của của người trí thức đó là hiểu biết tức là phải có tri thức.
Hồ Chí Minh chia ra làm hai loại tri thức: tri thức khoa học tự nhiên và tri thức khoa học xã hội. Và yêu cầu, người trí thức phải nắm vững những tri thức trong lĩnh vực mà mình nghiên cứu. Ngoài ra, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thông qua cách phân loại tri thức như trên, có thể chia trí thức thành hai nhóm lớn là, trí thức trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội. Đây là cách phân loại rất gần gũi với quan niệm hiện đại đang được sử dụng phổ biến ngày nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đưa ra quan niệm về một người “trí thức hoàn toàn”, đó là người phải luôn biết gắn lý luận với thực hành, lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn và phải giải quyết được những vấn đề thực tiễn nảy sinh trên lý luận khoa học. Như Người đã viết: “Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: Công việc thực tế, y không biết gì cả.
Thế là y chỉ là trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”. Hồ Chí Minh còn tiếp cận trí thức thông qua khái niệm “lao động trí óc”.
Trong bài Đảng lao động Việt Nam với lao động trí óc, Người xác định trí thức là “những người lao động trí óc”. Vậy “lao động trí óc là ai?”. Câu trả lời của Hồ Chí Minh: Là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn giấy,. Như vậy, với những quan niệm trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho ta cái nhìn toàn diện về trí thức, tránh những tư tưởng hiểu chưa đúng về trí thức với cái nhìn phiến diện, như coi trí thức là những người lao động trí óc, với quan điểm là phân biệt với lao động chân tay, không có mối liên hệ nào.
Hay cứ học xong, có bằng đại học, cao đẳng thì đều là trí thức… Với những cách nhìn nhận giản đơn đó đã tầm thường hóa khái niệm trí thức và do cách nhìn nhận ấy đã làm tầm thường hóa không ít những người thuộc giới trí thức. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tóm lại, trên cơ sở quan quan điểm của C.Mác, Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những khái niệm nêu trên, có thể khái quát: Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt, có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn sâu, có đạo đức, lao động trí tuệ - sáng tạo khoa học, phổ biến và nghiên cứu ứng dụng tri thức khoa học, trong hoạt động thực tiễn, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Tuy góc độ tiếp cận khác nhau, song các khái niệm trên tập trung đề cập tới một số dấu hiệu cơ bản sau: Thứ nhất, trí thức là một tầng lớp xã hội Trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội được thu nạp từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau; cho nên trí thức không đại biểu cho một phương thức sản xuất độc lập nào. Trong xã hội có giai cấp, trí thức luôn của giai cấp thống trị và phục vụ cho giai cấp thống trị.Lênin đã khẳng định: Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi.
Đồng thời trong xã hội cần thiết đến sự sáng tạọ, lý tưởng của trí thức để giải phóng con người, giải phóng xã hội cả về mặt thể chất, trí tuệ và xã hội. Thứ hai, trí thức là người có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn sâu Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của trí thức tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử. Trình độ học vấn và chuyên môn của trí thức được thể hiện ở trình độ khoa học cơ bản và khoa học chuyên ngành; được hình thành qua đào tạo, bồi dưỡng và không ngừng phát triển bằng con đường tự đào tạo, lao động và hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân. Ở nước ta, trình độ học vấn của trí thức thường được quan niệm từ bậc cao đẳng trở lên.
Phần lớn trí thức được đào tạo từ các trường cao đẳng, đại học và nhận được bằng cấp khác 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tuy nhiên bằng cấp cũng chỉ là một trong những tiêu chí để phân biệt trí thức với các lực lượng khác trong xã hội; bởi trên thực tế, nhiều người không qua đào tạo cơ bản, không có bằng cấp, nhưng bằng con đường tự học, tự nghiên cứu và tích cực lao động sáng tạo, nên họ đã trở thành trí thức và bổ sung vào đội ngũ trí thức. Thứ ba, trí thức là người lao động trí óc, sáng tạo Lao động trí óc là đặc trưng lao động của trí thức và sản phẩm lao động của họ là những tri thức khoa học sáng tạo. Lao động sáng tạo của trí thức là đi tìm bản chất và phát hiện quy luật của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan; đem lại những tri thức khoa học mới, tiến bộ, hữu ích, phổ biến và ứng dụng những tri thức đó vào thực tiễn để nâng cao chất lượng mọi mặt của đời sống xã hội, dự báo tương lai và đưa ra phương hướng, biện pháp nhằm phát triển xã hội.
Những sản phẩm lao động sáng tạo chủ yếu là những giá trị tinh thần, là sự phản ánh sâu sắc bản chất của sự vật, hiện tượng, là cơ sở lý luận định hướng cho nhận thức và hoạt động thực tiễn nhiều lĩnh vực cho sự phát triển của xã hội trên cả đời sống vật chất lẫn tinh thần. Ngoài phẩm chất trên những trí thức chân chính có tinh thần dân tộc, luôn nặng lòng yêu nước, thương dân, có trách nhiệm cao với quốc gia và dân tộc.