Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan khả năng ra quyết định lâm sàng 1. Khả năng ra quyết định lâm sàng Theo Bakalis và Watson (2005) định nghĩa ra quyết định lâm sàng là một quá trình mà người điều dưỡng sử dụng các thông tin thu thập về người bệnh, đánh giá nó và thực hiện sự phán đoán để đưa ra các kết luận định hướng cho các can thiệp chăm sóc. Ra quyết định là một thành phần thiết yếu trong vai trò của điều dưỡng [12].
Khả năng ra quyết định là một trong những khả năng cơ bản mà người điều dưỡng phải thực hiện trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thế [29]. Người điều dưỡng phải phân tích những thay đổi về nhu cầu của người bệnh đưa ra những ưu tiên trong chăm sóc, tuy vậy các quyết định lâm sàng cũng có thể được đưa ra khi có sự thảo luận với người nhà và người bệnh [34]. Khả năng ra quyết định lâm sàng là việc đưa ra các giải pháp phù hợp nhất, hữu hiệu nhất và dễ thực hiện nhất để đáp ứng những thay đổi về nhu cầu của người bệnh từ đó có thể giải quyết được tốt nhất các vấn đề mà người bệnh và người nhà đang gặp phải [35]. Khả năng ra quyết định lâm sàng trong điều dưỡng bao gồm các quyết định chăm sóc đáp ứng sự thay đổi nhu cầu của người bệnh và người nhà.
Khả năng này cũng bao gồm các quyết định liên quan đến cảm xúc, yếu tố văn hóa xã hội và kinh tế của người bệnh [27], [34]. Khả năng ra quyết định lâm sàng là một trong những khả năng cơ bản của thực hành điều dưỡng, được đào tạo ở các bậc đào tạo điều dưỡng [10]. Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra các tiêu chuẩn vàng trong đào tạo điều dưỡng đó là việc phát triển khả năng ra quyết định lâm sàng là một mục tiêu bắt buộc trong tất cả các chương trình đào tạo điều dưỡng [31]. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định lâm sàng Có rất nhiều yếu tố liên quan trong quá trình ra quyết định lâm sàng và mỗi khả năng cốt lõi có khả năng tác động hiệu quả tới việc ra quyết định.
Trong một 5 thế giới lý tưởng, quyết định sẽ được thực hiện một cách khách quan, với đầy đủ các bằng chứng, một nguồn tài nguyên vô tận, không có áp lực thời gian, gián đoạn tối thiểu, công cụ hỗ trợ quyết định hoạt động tích cực để xử lý bất kỳ tình huống nào trong ngày [12]. Tuy nhiên, điều này không phải luôn là hiện thực. Việc đưa ra các quyết định lâm sàng là một sự cân nhắc kỹ về thực hành tốt nhất được biết đến (các bằng chứng, nghiên cứu), nhận thức về tình hình hiện tại và môi trường và kiến thức của người bệnh. Đó là sự kết hợp các điều nhỏ để đưa ra một quyết định.
Quyết định lâm sàng đưa ra nên bao gồm một loạt các nguồn thông tin và kiến thức khác nhau [12]. - Hiểu biết các bằng chứng: là việc tìm hiểu và đánh giá về các bằng chứng đã có trong các nguồn thông tin như: tạp chí, sách và bài báo khoa học. Bằng kinh nghiệm thực tiễn, có thể xác định, xây dựng và thiết lập các giải pháp cụ thể cho tình huống hiện tại. - Hiểu biết bản thân mình: Nhận thức về hành vi, năng lực, thái độ, tình cảm và các giá trị của bản thân.
Không chỉ hiểu về bản thân mình mà còn phải hiểu về những người bệnh và đồng nghiệp của mình. Điều đó rất quan trọng để biết giới hạn của mình khi tìm sự giúp đỡ, tư vấn và hỗ trợ. - Hiểu biết người bệnh và con người: Biết sở thích của người bệnh, kinh nghiệm của họ về bệnh tật, tình hình hiện tại của họ hoặc nhu cầu chăm sóc của họ và những gì là bình thường ở người bệnh khi quan sát. Tuy nhiên để có được những đánh giá khách quan cần dựa vào các công cụ đánh giá kèm theo.
- Hiểu biết về môi trường: Nâng cao nhận thức và sự chấp thuận của các phương pháp tiếp cận để đưa ra quyết định [12]. Quá trình ra quyết định lâm sàng Ra quyết định lâm sàng thường sẽ đi theo một quá trình từ thu thập các thông tin cần thiết cho đến quyết định cuối cùng[12]. - Bước 1: Sử dụng các dấu hiệu, thu thập và phân tích dữ liệu người bệnh có qua quan sát trực tiếp, lắng nghe câu chuyện của người bệnh và sự lo lắng của họ, 6 tham khảo hồ sơ bệnh án, kiểm tra kết quả xét nghiệm, sử dụng công cụ liên quan [12]. - Bước 2: Đưa ra các phán đoán dựa trên các dữ liệu mà người bệnh có, tìm kiếm các bằng chứng đã có để giải quyết các vấn đề đó.
Phân tích sự phù hợp của các bằng chứng đó trong việc giải quyết các vấn đề của người bệnh [12]. - Bước 3: Ra quyết định: là việc đưa ra các quyết định sẽ phải làm gì và làm như thế nào, quyết định ai có thể cần phải được thông báo và tham khảo ý kiến. Có thể tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, người bệnh và người nhà trong việc đưa ra quyết định [12]. - Bước 4: Thực hiện quyết định.
- Bước 5: Đánh giá kết quả: là đánh giá hiệu quả của các quyết định trong việc đạt được các kết quả mong chờ. Bước này cũng có thể tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, người bệnh và người nhà trong việc tìm thêm thông tin để có thể ra phán đoán và ra quyết định tiếp theo [12]. Thực trạng khả năng ra quyết định lâm sàng của sinh viên điều dưỡng Một số nghiên cứu đã được tiến hành để xác định tkhả năng ra quyết định lâm sàng của điều dưỡng trong các tình huống chăm sóc người bệnh khác nhau chỉ ra rằng khả năng ra quyết định lâm sàng của sinh viên còn rất hạn chế [17], [31]. Một nghiên cứu cắt ngang của Bjork và Hamilton (2011)trên 2095 điều dưỡng về đối với khả năng ra quyết định lâm sàng tại một bệnh viện ở Na Uy cho thấy khả năng ra quyết định lâm sàng còn rất nhiều hạn chế khi chỉ được tham gia học theo phương pháp truyền thống [17].
Parker (2014) đã tiến hành nghiên cứu trên 166 sinh viên điều dưỡng tại Hoa Kỳ về mối quan hệ giữa khả năng ra quyết định với hình thức thực hành trước khi ra viện. Kết quả cho thấy, khả năng ra quyết định lâm sàng ở các sinh viên điều dưỡng còn rất hạn chế trước khi được học theo phương pháp trực quan sinh động (p = 0,003) [31]. Các phương pháp đánh giá khả năng ra quyết định lâm sàng Trên thực tế các công cụ dùng để đánh giá khả năng ra quyết định lâm sàng còn rất hạn chế. Khả năng ra quyết định lâm sàng của sinh viên điều dưỡng được đánh giá dựa vào bộ công cụ đánh giá khả năng ra quyết định lâm sàng trong chăm sóc (NDMI).
Bộ công cụ này đã được xây dựng bởi Sirkka Lauri and Sanna Salantera (2002) [33]. Đây là bộ công cụ tự điền về quan điểm/ nhận thức của sinh viên điều dưỡng đối với khả năng ra quyết định lâm sàng của họ. Tác giả khuyến nghị rằng, bộ công cụ này có thể được sử dụng trong giáo dục với mục đích theo dõi sự phát triển khả năng ra quyết định lâm sàng của sinh viên điều dưỡng trong quá trình đào tạo [15]. Bộ công cụ này đã được sử dụng trong nghiên cứu của Parker (2014) về mối quan hệ giữa khả năng ra quyết định với hình thức thực hành trước khi ra viện của 166 sinh viên điều dưỡng.Kết quả cho thấy độ tin cậy của bộ công cụ với chỉ số Cronbach’s alpha là 0,84 [31].
Các phương pháp dạy học dựa trên tình huống 1. Khái niệm về phương pháp dạy học dựa trên tình huống Tình huống: Theo quan điểm triết học, tình huống được nghiên cứu như là một tổ hợp các mối quan hệ xã hội cụ thể, mà đến một thời điểm nhất định liên kết con người với môi trường, biến con người thành một chủ thể của một hoạt động có đối tượng nhằm đạt được một mục tiêu nhất định [2]. Tình huống là toàn thể những sự việc xảy ra tại một nơi, trong một thời gian hoặc một thời điểm. Một cách tổng quát có thể sử dụng khái niệm tình huống được xem xét về mặt tâm lí học.
Đó là tình huống được quan niệm trên cơ sở quan hệ giữa chủ thể và khách thể, trong không gian và thời gian. “Tình huống là hệ thống các sự kiện bên ngoài có quan hệ với chủ thể, có tác dụng thúc đẩy tính tích cực của người đó. Trong quan hệ không gian tình huống xảy ra bên ngoài nhận thức của chủ thể, trong quan hệ thời gian tình huống xảy ra trước so với hành động của chủ thể [8]. Trong quan hệ chức năng tình huống là sự độc lập của các sự kiện đối với chủ thể ở thời điểm mà người đó thực hiện hành động”.
8 Tình huống dạy học: Xét về mặt khách quan, tình huống dạy học là tổ hợp những mối quan hệ xã hội cụ thể được hình thành trong quá trình dạy học, khi mà người học đã trở thành chủ thể hoạt động của đối tượng nhận thức trong môi trường dạy học, nhằm một mục đích dạy học cụ thể. Xét về mặt chủ quan, tình huống dạy học chính là trạng thái bên trong được sinh ra do sự tương tác giữa chủ thể với đối tượng nhận thức. Bản chất của tình huống dạy học là đơn vị cấu trúc của bài lên lớp, chứa đựng mối liên hệ mục đích – nội dung – phương pháp theo chiều ngang tại một thời điểm nào đó với nội dung là một đơn vị kiến thức [19]. Một tình huống thông thường chưa phải là một tình huống dạy học.
Nó chỉ trở thành tình huống dạy học khi người giáo viên đưa những nội dung cần truyền thụ vào trong các sự kiện tình huống và cấu trúc các sự kiện sao cho phù hợp với logic sư phạm, để khi người học giải quyết nó sẽ đạt được mục tiêu dạy học. Phương pháp dạy học dựa trên tình huống: Theo Trịnh Văn Biều, dạy học dựa trên tình huống là một phương pháp dạy học được tổ chức theo những tình huống có thực của cuộc sống, trong đó người học được kiến tạo tri thức qua việc giải quyết các vấn đề có tính xã hội của việc học tập [7]. Theo Phan Trọng Ngọ, bản chất của phương pháp dạy học (PPDH) dựa trên tình huống là thông qua việc giải quyết những tình huống, người học có được khả năng thích ứng tốt nhất với môi trường xã hội đầy biến động.