phần mở đầu, phần kết luận, phần danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chƣơng 5 tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC THEO YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Nguồn nhân lực và yêu cầu của nguồn nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay 1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tại Đại hội III của Đảng lao động Việt Nam (năm 1960), Đảng ta đã khẳng định: muốn cải biến tình trạng kinh tế lạc hậu ở nƣớc ta, không có con đƣờng nào khác ngoài con đƣờng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đây là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Hội nghị ban chấp hành TW 7 Khóa 7, Đảng ta đã có bƣớc đột phá khi đƣa ra khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhƣ sau: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phƣơng tiện và phƣơng pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao” [45]. Các kỳ đại hội tiếp theo, Đảng ta đã bổ sung và phát triển quan điểm của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa phù hợp với thực tế sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc và trên thế giới. Đại hội X nhấn mạnh: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa, hiện đại hóa [17, 87]. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đại hội XI nhấn mạnh thêm về nội dung, phƣơng hƣớng tiến hành và mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta: “Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ” [18, 72].
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm phát triển lực lƣợng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trƣớc hết là quá trình cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng công cụ, phƣơng tiện hiện đại, có năng suất cao. Đó là bƣớc chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp. Đặc điểm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam là: Thứ nhất, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa.
Sở dĩ nhƣ vậy vì trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại để hiện đại hóa những ngành, những khâu có khả năng nhảy vọt. Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện dại hóa phải nhằm mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mà thực chất là vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ở nƣớc ta, công nghiệp hóa nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tăng cƣờng sức mạnh để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Đặc điểm này nói lên bản chất chính trị - xã hội của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta.
Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trƣờng có sự điều tiết của nhà nƣớc dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, và công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế, đảm bảo nền kinh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tế nƣớc ta là một nền kinh tế độc lập. Đặc điểm này nói lên điều kiện kinh tế - xã hội cho việc tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta. Thứ tƣ, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam phải coi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là mặt trận hàng đầu, phải giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Đây là đặc thù nói lên nhiệm vụ có tính then chốt, hàng đầu phải giải quyết của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta.
Những đặc điểm trên đây của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta đặt ra những yêu cầu về nguồn lực để thực hiện nhƣ nguồn nhân lực, vật lực và vốn ban đầu. Nguồn nhân lực và yêu cầu nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Về nguồn nhân lực Nhân lực là nhân tố quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thƣớc đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia, vì vậy các quốc gia trên thế giới đều coi trọng phát triển nguồn nhân lực. Các quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên nhƣng phát huy tốt nguồn nhân lực vẫn có thế đạt đƣợc những thành tựu lớn trong phát triển kinh tế - xã hội.
Không giống nhƣ một số nguôn lực khác nhƣ: nguồn lực tài chính, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực máy móc, công nghệ…nguồn nhân lực là một nguồn lực đặc biệt, có vai trò chi phối việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác, do vậy nó có ý nghĩa quyết định tới sự thành bại của quá trình phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nhƣng nguồn nhân lực của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong quá trình tồn tại cũng nhƣ sự phát triển của nguồn nhân lực, nó không chỉ chịu sự tác động của biến động tự nhiên (sinh, tử…) và biến động cơ học (di dân) mà 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com còn chịu ảnh hƣởng của hệ thống các qui luật: qui luật cung cầu về nhân lực, qui luật cạnh tranh… Khái niệm nguồn nhân lực trên thực tế đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau. Theo Liên hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc”.
Nhƣ vậy, ở đây, nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh các vốn vật chất khác: vốn tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo các tổ chức lao động quốc tế thì: - Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. - Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lao động đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động. Vậy nguồn nhân lực có những đòi hỏi về trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, thể lực, phẩm chất đạo đức, nhân cách để thực sự trở thành đơn vị cấu thành chất xám trong kết quả sản xuất và hoạt động của xã hội. Nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện trên hai mặt: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Về số lƣợng đó là tổng số những ngƣời trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nƣớc và thời gian lao động có thể huy động đƣợc từ họ. + Về chất lƣợng, đó là những chỉ số về sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của ngƣời lao động, cơ cấu lao động lành nghề đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản xuất của xã hội.
Nguồn lao động là tổng số những ngƣời trong độ tuổi lao động qui định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Nguồn lao động cũng đƣợc hiểu trên hai mặt: Số lƣợng và chất lƣợng. Có thể thấy khái niệm nguồn nhân lực và khái niệm nguồn lao động không hoàn toàn đồng nhất. Khái niệm nguồn nhân lực có nội hàm rộng hơn khái niệm nguồn lao động: Một số đƣợc tính là nguồn nhân lực nhƣng lại không phải là nguồn lao động đó là: những ngƣời không có việc làm nhƣng lại tích cực tìm kiếm việc làm, những ngƣời trong độ tuổi lao động qui định nhƣng đang đi học… Từ những quan điểm trên có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng hòa các yếu tố thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó những truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải, vật chất và tinh thần để phục vụ cho đất nƣớc.
Một quốc gia muốn phát triển thì phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế nhƣ: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học – công nghệ, con ngƣời. Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con ngƣời là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trƣớc đến nay. Mà khía cạnh quan trọng nhất của nguồn lực con ngƣời chính là ở chất lƣợng dân số, chất lƣợng của nguồn nhân lực ấy, đó là trí tuệ kết tinh trong hoạt động sản xuất, đó là sự thành thạo, khéo léo, là phẩm chất của ngƣời lao động, là tác phong trong lao động. Ngày nay, các nhà kinh tế cũng nhƣ các nhà quản lý kinh tế hàng đầu của thế giới đều nhất trí cho rằng: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguồn nhân lực là nền tảng chủ yếu để tạo ra của cải cho các nƣớc.