Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Triết học (mã số 62.02, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học Xã hội, bảo vệ năm 2014) đi sâu nghiên cứu chủ đề xã hội dân sự dưới lăng kính triết học, tiếp cận thực thể này như một không gian xã hội của và cho sự phát triển con người.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trên bình diện quốc tế, hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự ngày càng gắn kết chặt chẽ với lộ trình hiện thực hóa Các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Liên Hợp Quốc khởi xướng. Các tổ chức này phối hợp với chính phủ các nước nhằm giải quyết tình trạng nghèo đói, nâng cao giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường bền vững và thúc đẩy sự tham gia của người dân vào quy trình hoạch định, thực thi chính sách. Trong bối cảnh Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế toàn diện, bên cạnh yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự hình thành và phát triển một xã hội dân sự phù hợp là đòi hỏi khách quan.
Tại Việt Nam, xã hội dân sự không vận hành theo khuynh hướng đối lập hay tách biệt tuyệt đối với nhà nước như mô hình tự do phương Tây, mà bắt nguồn từ các thực tiễn mang tính truyền thống (các nhóm, hội, phường và mạng lưới liên kết cộng đồng làng xã) cho đến các đoàn thể, hiệp hội ngoài nhà nước hiện đại. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, việc phát triển nhanh nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, được xác định là một trọng tâm cốt lõi. Tuy nhiên, việc xây dựng xã hội dân sự mang tính đặc thù lịch sử và văn hóa ở Việt Nam vẫn thiếu vắng các nghiên cứu lý luận mang tính hệ thống từ góc độ triết học nhằm làm sáng tỏ bản chất của xã hội dân sự trong mối liên hệ với bản chất và sự phát triển của con người.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản như sau:
- Làm rõ nội hàm các khái niệm cơ bản như bản chất con người, phát triển con người trong mối liên hệ với không gian xã hội.
- Chỉ ra mối liên hệ giữa xã hội dân sự và phát triển con người.
- Luận giải xã hội dân sự trong vai trò là không gian xã hội cho sự phát triển con người.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khái niệm xã hội dân sự trong mối liên hệ với sự phát triển con người.
- Phạm vi nội dung: Xã hội dân sự chỉ được xem xét trong giới hạn là không gian xã hội cho sự phát triển con người. Các góc độ kinh tế, pháp lý thuần túy hoặc xã hội học thực nghiệm chỉ được đề cập khi có liên quan trực tiếp đến sự phát triển con người.
- Phạm vi lịch sử và không gian: Khảo cứu lịch sử tư tưởng triết học phương Tây từ thời kỳ Hy Lạp cổ đại đến triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam trong công cuộc Đổi mới từ năm 1986 đến giai đoạn 2011 - 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tác giả đã điểm lại hệ thống tài liệu nghiên cứu phong phú trong nước, phân chia thành các nhóm chủ đề:
Nhóm sách chuyên khảo:
- Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên, 2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia.
- Vũ Duy Phú (Chủ biên), Đặng Ngọc Dinh, Trần Chí Đức, Nguyễn Vi Khải (2008), Xã hội dân sự - Một số vấn đề chọn lọc, Nxb. Tri thức.
- Dương Xuân Ngọc (2009), Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị - Hành chính Quốc gia.
- Đinh Công Tuấn (Chủ biên, 2010), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về XHDS ở liên minh Châu Âu, Nxb. Khoa học Xã hội.
- Tống Đức Thảo (2011), Trào lưu Xã hội dân sự ở một số nước Phương tây hiện đại, Nxb. Chính trị Quốc gia.
Nhóm bài viết trên các tạp chí chuyên ngành:
- Lịch sử khái niệm và lý luận chung: Đỗ Trung Hiếu (2002), Phạm Hồng Thái (2004), Bùi Việt Hương (2006), Nguyễn Như Phát (2006), Phan Hữu Thư (2006), Bùi Quang Dũng (2006, 2008), Vũ Văn Nhiêm (2007), Nguyễn Thanh Tuấn (2007), Tương Lai (2007), Trần Tuấn Phong (2009), Nguyễn Đình Tường (2009), Trần Hữu Quang (2009).
- Mối quan hệ giữa xã hội dân sự với nhà nước pháp quyền và kinh tế thị trường: Phạm Xuân Sơn (2001), Nguyễn Thanh Bình (2004), Thang Văn Phúc (2002), Võ Khánh Vinh (2003), Lê Văn Quang và Văn Đức Thanh (2003, 2004), Đào Trí Úc (2004), Hoàng Ngọc Giao, Trần Ngọc Hiên, Đặng Kim Sơn (2004), Trần Hậu Thành (2005), Phạm Ngọc Trầm (2006), Nguyễn Duy Quý (2006), Nguyễn Thu Linh (2006), Nguyễn Minh Phương (2006), Đinh Ngọc Vượng (2006), Hà Thị Mai Hiên (2006), Lê Hữu Nghĩa, Hoàng Chí Bảo, Bùi Đình Bôn (2008), Hồ Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2009), Lê Minh Quân (2011), Lê Minh Thông (2011).
Các dự án điều tra và khảo sát thực tiễn:
- Đề án KX.10: Dự án "Vị trí và đặc điểm hoạt động của tổ chức Thánh Lễ và xã hội trong Hệ thống chính trị", Nguyễn Việt Vương biên tập (1994).
- Khảo sát năm 2001: "Hệ thống chính trị cơ sở - Xem từ nhân dân" của Viện Xã hội học do Trịnh Duy Luân chủ trì (2002).
- Dự án COHH (1999 - 2002): Nghiên cứu phối hợp giữa Viện Xã hội học, Đại học Freiburg và Đại học Tự do Berlin về các tổ chức dân sự tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đề tài triết học và hội thảo khoa học tiêu biểu:
- Đề tài cấp Bộ: "Cơ sở triết học và thực tiễn của việc xây dựng xã hội dân sự" do PGS. Phạm Văn Đức, Viện Triết học chủ nhiệm (2007 - 2009).
- Đề tài cấp Nhà nước: "Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự hình thành và phát triển xã hội dân sự định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay".
- Các hội thảo khoa học: Hội thảo do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 16/5/2007; Hội thảo do Viện Xã hội học phối hợp với Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức ngày 14/8/2007; Hội thảo do Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Quỹ Konrad Adenauer Stiftung (KAS) tổ chức ngày 28 - 29/2/2008; Hội thảo do CIEM và Viện Nghiên cứu Châu Á của các nước Bắc Âu (NIAS) tổ chức ngày 4/4/2008; Hội thảo do Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức ngày 10/1/2008.
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Tư tưởng cổ điển và cận đại: Khái niệm Polis của Aristotle (không phân biệt nhà nước và xã hội dân sự nhưng có hạn chế về quyền của phụ nữ và chế độ nô lệ); Thomas Hobbes và John Locke với học thuyết khế ước xã hội, trạng thái tự nhiên và bảo vệ tư hữu; Montesquieu với tác phẩm Bàn về tinh thần pháp luật, tách tôn giáo ra khỏi đời sống dân sự và đặt nền móng phân quyền; Jean-Jacques Rousseau với sự phân biệt giữa xã hội dân sự dựa trên tư hữu và nhà nước dựa trên ý chí chung; Immanuel Kant và G.W.F. Hegel trong Triết học pháp quyền, xếp xã hội dân sự là một mắt xích của đời sống đạo đức (ethical life); C. Mác với sự phát triển quan niệm duy vật lịch sử, gắn xã hội dân sự với xã hội tư sản và các hình thái kinh tế - xã hội.
- Các lý thuyết hiện đại: Chủ nghĩa tự do và tân tự do (Lester Salamon, Helmut Anheier, Regina List) coi xã hội dân sự là "lĩnh vực thứ ba" phi lợi nhuận và phi nhà nước; Chủ nghĩa cộng đồng nhấn mạnh yếu tố bản sắc và tập tục văn hóa; Chủ nghĩa cộng hòa định hướng tiến trình, nhấn mạnh lĩnh vực công và hành lang pháp lý; Các nghiên cứu về xã hội dân sự toàn cầu (Neera Chandhoke, Mark Robinson, Gordon White, Larry Diamond, David Held, John Keane, Jean Cohen, Andrew Arato, Robert W. Cox).
- Lý thuyết phát triển con người: Amartya Sen (Development as Freedom, The Idea of Justice) với việc coi tự do là phương tiện và mục tiêu phát triển, tăng cường năng lực con người; Mahbub ul Haq (Reflections on Human Development) định nghĩa phát triển con người là quá trình mở rộng cơ hội và tăng cường năng lực lựa chọn; Martha Nussbaum (Hiding From Humanity).
| Nhóm nghiên cứu |
Đại diện tiêu biểu |
Nội dung và trọng tâm tiếp cận |
| Triết học cổ điển |
Aristotle, Locke, Rousseau, Hegel, Marx |
Khảo sát trạng thái tự nhiên, khế ước xã hội, đời sống đạo đức và sự chuyển biến hình thái kinh tế - xã hội. |
| Thuyết tự do / Tân tự do |
Salamon, Anheier, List |
Xác định xã hội dân sự là "lĩnh vực thứ ba", tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận tách biệt với nhà nước và thị trường. |
| Thuyết cộng đồng & Cộng hòa |
Cohen, Arato, Honneth |
Chú trọng mạng lưới thực tiễn dân sự, các chuẩn mực tối thiểu, tính tích cực công dân và tính lịch sử - cụ thể. |
| Lý thuyết phát triển con người |
Sen, Mahbub ul Haq, Nussbaum |
Đặt con người làm trung tâm; mở rộng cơ hội lựa chọn, nâng cao năng lực sinh thể và năng lực tinh thần. |
| Thực tiễn và thể chế tại Việt Nam |
Phạm Văn Đức, Thang Văn Phúc, Dương Xuân Ngọc |
Đánh giá vai trò của đoàn thể, hội, quan hệ giữa nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Hầu hết các công trình tại Việt Nam tiếp cận xã hội dân sự dưới góc độ văn hóa học, xã hội học, luật học hoặc kinh tế học; rất ít công trình tiếp cận đầy đủ từ góc độ triết học chuyên sâu. Đa số các ấn phẩm dừng lại ở bài báo ngắn gọn, thiếu tính hệ thống và còn nhiều bất đồng quan điểm về bản chất của xã hội dân sự tại Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách xây dựng hệ thống lý luận triết học, luận giải xã hội dân sự như một không gian xã hội gắn kết hữu cơ với bản chất con người và sự phát triển con người.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Luận án được triển khai dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nghiên cứu quán triệt các quan điểm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và giải phóng, phát triển con người, cùng các nghị quyết, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong khuôn khổ phân tích bản chất con người, tác giả dựa vào luận điểm nổi tiếng của C. Mác: "Toàn bộ lịch sử không là gì khác mà là một sự biến đổi liên tục của bản chất con người". Con người được xem xét dưới phạm trù "sinh vật có tính loài" (Gattungswesen), có năng lực biến loài của mình và thế giới xung quanh thành đối tượng nhận thức và hoạt động thực tiễn. Bản chất con người mang tính xã hội sâu sắc, gắn bó mật thiết với cộng đồng (Gemeinwesen) và xã hội (Gesellschaft).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên các kỹ thuật phân tích triết học, diễn giải văn bản và lịch sử tư tưởng:
- Phương pháp phân tích phạm trù và quy luật biện chứng: Vận dụng hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển) để chỉ ra rằng phát triển con người là tiến trình hoàn thiện không ngừng bản chất con người trong tính thống nhất đa dạng.
- Tiếp cận chỉnh thể (Holistic approach): Xem xét sự vật như một cơ thể sống đang tự vận động theo quy luật nội tại. Bản chất của toàn thể quy định các bộ phận cấu thành, và toàn thể không thể quy giản thành tổng số cơ học của các bộ phận đơn lẻ ("toàn thể quyết định bộ phận, toàn thể là cái gì giàu hơn tổng số các bộ phận"). Tác giả sử dụng khái niệm diễn dịch (epagoge) của Aristotle – năng lực duy trì đồng thời sự nhận biết của giác tính (nous) về cái toàn thể với nhận thức của cảm năng (aisthesis) về các bộ phận cá thể.
- Lý thuyết về phẩm chất phát khởi (đột sinh hay hợp trội - emergence): Luận chứng rằng khi các thực thể cấp thấp tương tác theo quy luật, một thực thể cấp cao hơn sẽ xuất hiện với những thuộc tính mới mà các bộ phận riêng lẻ không có. Tác giả lấy ví dụ về phân tử nước ($H_2O$): Hiđrô và Ôxy đều là những nguyên tố dễ cháy, nhưng khi kết hợp theo tỷ lệ nhất định sẽ tạo thành nước mang đặc tính ẩm ướt và có khả năng dập lửa.
- Phương pháp tiếp cận tiến trình và lịch sử - cụ thể: Khảo sát các hình thức dân sự trong bối cảnh văn hóa truyền thống Việt Nam, kết hợp phân tích khung ba chỉ số chung rút ra từ chủ nghĩa cộng đồng và chủ nghĩa cộng hòa: (1) Hoạt động tự nguyện và tự tổ chức; (2) Hoạt động không vì lợi nhuận cá nhân mà vì lợi ích xã hội; (3) Cấu trúc dân sự minh bạch và dễ tiếp cận đối với mọi người dân.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin; các trước tác của các triết gia phương Tây từ cổ đại đến cận - hiện đại; các văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam; các báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc và UNDP; cùng hệ thống tài liệu từ các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước và dự án điều tra xã hội học đã công bố tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Mở đầu
Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tác giả khẳng định xã hội dân sự tại Việt Nam là một thực tiễn dân sự mang tính truyền thống, thể hiện qua các hoạt động tự nguyện ngoài nhà nước của người dân nhằm giải quyết các vấn đề cộng đồng. Phần này xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp luận duy vật biện chứng và tổng quan toàn diện tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước.
Chương 1. Cơ sở lý luận về bản chất con người, phát triển con người và không gian xã hội
Chương này tập trung làm rõ các khái niệm nền tảng dưới góc nhìn triết học duy vật lịch sử và tiếp cận chỉnh thể:
- Bản chất con người và tính loài: Phân tích luận điểm của C. Mác về con người là "sinh vật có tính loài" (Gattungswesen). Hoạt động của con người mang tính tự do và phổ biến vì con người ý thức được các lực lượng bản chất nội tại của mình và tuân theo các quy luật khách quan thay vì sự áp đặt từ các đấng siêu nhiên.
- Bản chất cộng đồng: Khảo cứu khái niệm Gemeinwesen (cộng đồng, công xã, nền cộng hòa) và Gesellschaft (xã hội) trong các tác phẩm giai đoạn 1843 - 1845 của C. Mác, chứng minh rằng bản chất con người không phải là một lực lượng trừu tượng đứng ngoài cá nhân, mà chính là hoạt động sống, đời sống và sự phong phú của từng cá nhân trong sự liên kết xã hội.
- Không gian xã hội và tiếp cận chỉnh thể: Không gian xã hội được hiểu theo nghĩa rộng là nền văn hóa, theo nghĩa hẹp là cộng đồng xã hội cụ thể. Đây là môi trường do con người tạo lập, đồng thời là tiền đề cho các thế hệ tiếp theo hiện thực hóa bản chất của mình. Áp dụng nguyên lý hệ thống và phẩm chất hợp trội (lấy ví dụ về sự tạo thành nước từ Hiđrô và Ôxy), chương khẳng định con người giữ vai trò chủ động, sáng tạo trong việc tái thiết không gian xã hội.
Chương 2. Các hướng tiếp cận lý thuyết về xã hội dân sự và vai trò đối với phát triển con người
Chương này hệ thống hóa sự tiến triển của khái niệm xã hội dân sự trong lịch sử triết học và các trào lưu lý thuyết hiện đại:
- Tiến trình lịch sử tư tưởng: Phân tích quan niệm thành bang Polis của Aristotle; học thuyết khế ước xã hội của Thomas Hobbes và John Locke; quan điểm phân quyền và luật dân sự của Montesquieu; sự phân biệt giữa xã hội tư hữu và ý chí chung của Rousseau; cấu trúc ba giai đoạn của đời sống đạo đức (Gia đình - Xã hội dân sự - Nhà nước) trong Triết học pháp quyền của Hegel; và quan niệm của C. Mác về xã hội dân sự gắn với hình thái kinh tế - xã hội tư sản.
- Đối chiếu các trường phái đương đại: Phê phán sự phiến diện của thuyết tự do/tân tự do khi quy giản xã hội dân sự thành "lĩnh vực thứ ba" đối lập với nhà nước. Giới thiệu cách tiếp cận của thuyết cộng đồng (coi trọng bản sắc văn hóa) và thuyết cộng hòa (nhấn mạnh lĩnh vực công và hành động công dân).
- Khung ba chỉ số chung: Luận giải ba tiêu chí nền tảng của xã hội dân sự gồm: (1) Tính tự nguyện và tự tổ chức; (2) Hoạt động phi lợi nhuận cá nhân vì lợi ích xã hội; (3) Tính minh bạch và dễ tiếp cận đối với cộng đồng.
- Xã hội dân sự với việc phát triển con người: Tiếp thu quan điểm của Amartya Sen và Mahbub ul Haq, luận chứng rằng xã hội dân sự chính là không gian mở rộng cơ hội và tăng cường các năng lực lựa chọn (sinh thể và tinh thần) cho con người.
Chương 3. Cộng đồng chính trị, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự
Chương này đi sâu giải quyết mối quan hệ giữa các thiết chế chính trị - xã hội tại Việt Nam:
- Tính thống nhất giữa ba nhân tố: Luận giải mối liên hệ biện chứng giữa Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Xã hội dân sự lành mạnh, phù hợp. Ba yếu tố này hợp thành động lực thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
- Phê phán mô hình đối lập: Bác bỏ quan điểm máy móc của phương Tây về sự đối đầu giữa nhà nước và xã hội dân sự. Tác giả chỉ ra rằng tại Việt Nam, sự tham gia của các đoàn thể và hiệp hội nhân dân vào hệ thống chính trị cơ sở là sự tiếp nối truyền thống cố kết cộng đồng, đóng vai trò hỗ trợ nhà nước phục vụ lợi ích nhân dân.
- Dân chủ và phản biện xã hội: Đánh giá vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở, tăng cường sự đồng thuận xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời thúc đẩy cải cách hành chính.
Chương 4. Xây dựng và phát triển xã hội dân sự phù hợp tại Việt Nam nhằm thúc đẩy phát triển con người
Chương cuối cùng đề xuất các định hướng thực tiễn nhằm phát huy vai trò của xã hội dân sự ở nước ta:
- Đặc trưng thực tiễn dân sự Việt Nam: Phân tích tính lịch sử - văn hóa đặc thù của các hình thức tự quản làng xã truyền thống, kết hợp với các hội nghề nghiệp, hội từ thiện và tổ chức phi chính phủ hiện đại.
- Định hướng xây dựng xã hội dân sự: Phát triển xã hội dân sự theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững bản sắc dân tộc nhưng tuân thủ các chuẩn mực phổ quát. Xã hội dân sự phải đóng vai trò tích cực thúc đẩy ba khâu chiến lược trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, trọng tâm là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đổi mới giáo dục quốc dân và ứng dụng khoa học - công nghệ vì sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về lý luận
- Luận án đã luận giải một cách có hệ thống khái niệm xã hội dân sự từ góc độ triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, vượt qua các cách tiếp cận thuần túy xã hội học, luật học hay kinh tế học.
- Đưa ra khung lý thuyết định vị xã hội dân sự là "không gian xã hội của và cho sự phát triển con người", gắn kết khái niệm này với phạm trù bản chất loài (Gattungswesen) và bản chất cộng đồng (Gemeinwesen) của C. Mác.
- Vận dụng tiếp cận chỉnh thể và nguyên lý về phẩm chất phát khởi (hợp trội) để làm sáng tỏ mối liên hệ biện chứng giữa con người với tư cách chủ thể sáng tạo và hoàn cảnh/không gian xã hội do chính con người kiến tạo.
- Bác bỏ mô hình đối lập nhị nguyên giữa nhà nước và xã hội dân sự của chủ nghĩa tự do phương Tây; chứng minh tính tương thích và sự cần thiết khách quan của việc kết hợp hài hòa giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Xã hội dân sự lành mạnh tại Việt Nam.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Xây dựng mô hình xã hội dân sự mang tính đặc thù, phù hợp với truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, kết hợp hài hòa ba tiêu chuẩn phổ quát: tự nguyện/tự tổ chức, hoạt động phi lợi nhuận vì cộng đồng, và tính minh bạch, dễ tiếp cận.
- Phát huy vai trò của các tổ chức dân sự trong việc tham gia thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội quốc gia, đặc biệt là khâu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020.
- Hoàn thiện thể chế pháp lý nhằm tạo hành lang an toàn, minh bạch cho các tổ chức xã hội, hiệp hội và đoàn thể hoạt động, tăng cường phản biện xã hội và củng cố dân chủ ở cơ sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế được văn bản đề cập
- Về phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn việc xem xét xã hội dân sự thuần túy từ góc độ triết học và dưới khía cạnh không gian xã hội cho sự phát triển con người; do đó không đi sâu vào các khía cạnh kỹ thuật tổ chức, cơ chế tài chính nội bộ hoặc quản trị chi tiết của các tổ chức phi chính phủ.
- Về nguồn dữ liệu thực nghiệm: Do tính chất của một công trình nghiên cứu triết học, tác giả kế thừa và tổng thuật dữ liệu thực trạng từ các dự án khảo sát có sẵn (như Đề án KX.10, khảo sát năm 2001 của Viện Xã hội học, dự án COHH) chứ không tiến hành một cuộc điều tra xã hội học định lượng quy mô lớn trên phạm vi cả nước.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục khảo sát, đánh giá sự biến đổi của các cấu trúc dân sự cụ thể tại các địa bàn nông thôn và đô thị Việt Nam trong tiến trình đô thị hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.
- Nghiên cứu cơ chế phối hợp cụ thể giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội dân sự trong quy trình giám sát, phản biện chính sách và cung cấp dịch vụ công.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị học thuật cao, phục vụ thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp tư liệu hệ thống về lịch sử tư tưởng triết học phương Tây và triết học Mác - Lênin xoay quanh các khái niệm xã hội dân sự, bản chất con người và không gian xã hội. Các chương phân tích về tiếp cận chỉnh thể và tư tưởng của C. Mác trong Bản thảo kinh tế - triết học 1844 là nguồn tham khảo hữu ích cho chuyên ngành Triết học và Triết học chính trị.
- Người làm công tác lý luận và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về mối quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Kinh tế thị trường và Xã hội dân sự, phục vụ công tác xây dựng thể chế và quy chế dân chủ cơ sở.
- Cán bộ quản lý các đoàn thể, hội và hiệp hội: Giúp nhận thức rõ bản chất hoạt động dân sự theo ba chỉ số chung (tự nguyện, phi lợi nhuận cá nhân, minh bạch), từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động vì sự phát triển của cộng đồng và con người.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa xã hội dân sự tại Việt Nam như thế nào để phân biệt với quan niệm của phương Tây?
Xã hội dân sự tại Việt Nam được hiểu là thực tiễn dân sự bao gồm các hoạt động ngoài gia đình và mạng lưới các đoàn thể, hiệp hội, tổ chức ngoài nhà nước nhằm khai thác tiềm năng mọi nguồn nhân lực để thúc đẩy xã hội phát triển. Khác với truyền thống chủ nghĩa tự do phương Tây vốn xem xã hội dân sự là "lĩnh vực thứ ba" độc lập và đối lập với nhà nước, tại Việt Nam không có sự tách biệt hay đối đầu này; xã hội dân sự kế thừa truyền thống cộng đồng làng xã, nhóm, hội, phường và phối hợp cùng nhà nước vì mục tiêu phát triển con người.
2. Ba chỉ số chung của xã hội dân sự được tác giả tổng hợp từ thuyết cộng đồng và thuyết cộng hòa là gì?
Ba chỉ số chung không phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa quốc gia hay địa phương gồm:
- Các hoạt động dân sự mang tính tự nguyện và tự tổ chức.
- Các hoạt động này không phục vụ lợi nhuận cá nhân mà vì lợi ích của xã hội.
- Các cấu trúc dân sự phải minh bạch với tất cả người dân và có thể dễ tiếp cận đối với mọi người.
3. Khái niệm bản chất loài (Gattungswesen) của C. Mác được luận án vận dụng ra sao?
Luận án chỉ ra rằng con người là một "sinh vật có tính loài" vì con người lấy cả loài mình làm đối tượng nhận thức và hoạt động cả trong lý luận lẫn thực tiễn. Con người nhìn nhận bản thân như một thực thể phổ biến và tự do. Lịch sử nhân loại là tiến trình biến đổi liên tục bản chất con người; thông qua hoạt động thực tiễn, con người tự hiện thực hóa bản chất của mình và kiến tạo nên cộng đồng xã hội (Gemeinwesen).
4. Ví dụ phân tử nước ($H_2O$) được tác giả sử dụng nhằm mục đích gì trong phương pháp tiếp cận chỉnh thể?
Ví dụ về nước ($H_2O$) được sử dụng để minh họa cho khái niệm "phẩm chất phát khởi" (đột sinh hay hợp trội). Nước được tạo thành từ sự kết hợp có quy luật giữa Hiđrô và Ôxy. Mặc dù cả hai nguyên tố này đều dễ cháy, hợp chất nước mới xuất hiện lại sở hữu những đặc tính hoàn toàn mới (tính ẩm ướt, khả năng dập lửa). Qua đó, tác giả chứng minh luận điểm bản thể luận: Cái toàn thể luôn phong phú hơn tổng số cơ học các bộ phận cấu thành và không thể quy giản về các bộ phận đó.
5. Luận án tiếp thu những nội dung cốt lõi nào từ lý thuyết phát triển con người của Amartya Sen và Mahbub ul Haq?
Tác giả tiếp thu quan điểm coi phát triển con người là mục tiêu tối thượng thay vì chỉ chạy theo tăng trưởng kinh tế thuần túy. Phát triển con người được hiểu là quá trình mở rộng các cơ hội lựa chọn và tăng cường các năng lực lựa chọn (năng lực sinh thể và năng lực tinh thần). Đồng thời, tác giả viện dẫn quan điểm của Sen về việc bảo đảm các quyền tự do (tự do chính trị, kinh tế, cơ hội xã hội, minh bạch và an toàn) như những phương tiện cốt lõi để nâng cao năng lực con người, phục vụ cho sự phát triển bền vững.
Kết luận
Luận án đã giải quyết một cách tường minh vấn đề xã hội dân sự tại Việt Nam từ góc độ lý luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, xác lập luận điểm coi xã hội dân sự là không gian xã hội của và cho sự phát triển con người. Bằng việc kết hợp phương pháp tiếp cận chỉnh thể và lý thuyết bản chất loài của C. Mác, công trình đã luận chứng thuyết phục mối quan hệ hài hòa, không đối lập giữa Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Xã hội dân sự phù hợp. Những kết quả nghiên cứu này không chỉ đóng góp làm sâu sắc thêm nhận thức lý luận triết học mà còn cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong giai đoạn hiện nay.