Tổng quan luận án

Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) được Việt Nam ký kết ngày 20-02-1990, đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên tại châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn văn kiện này. Trải qua hơn hai thập kỷ triển khai, hệ thống pháp luật quốc gia tiếp tục được kiện toàn với trọng tâm là Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (sửa đổi từ đạo luật ban hành năm 1991). Mặc dù đạt được nhiều thành quả trong công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, thực tiễn xã hội vẫn đối mặt với những thách thức nghiêm trọng: các hành vi xâm phạm tính mạng, bạo hành, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục trẻ em vẫn tái diễn phức tạp ở nhiều địa bàn.

Trong cấu trúc xã hội hiện đại, truyền thông đại chúng (TTĐC) vừa là thiết chế thuộc kiến trúc thượng tầng, vừa đóng vai trò tác nhân xã hội hóa không chính thức quan trọng, định hướng nhận thức và hành vi công chúng. Tuy nhiên, hoạt động truyền thông về đề tài trẻ em thời gian qua còn bộc lộ nhiều khoảng trống: việc phổ biến pháp luật có lúc còn mang tính hình thức, phiến diện; một số cơ quan báo chí chạy theo xu hướng giật gân, thương mại hóa, xâm phạm đời tư hoặc hình tượng hóa sai lệch quyền của trẻ em. Trước thực trạng đó, luận án "Vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay" của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Nhâm (chuyên ngành Xã hội học, mã số 62 31 30 01, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS Nguyễn Đình Tấn) được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống thực nghiệm về vai trò xã hội của hệ thống truyền thông đa phương tiện tại một địa bàn cấp tỉnh.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng việc thực hiện các vai trò của TTĐC đối với tiến trình thực thi quyền trẻ em trên địa bàn tỉnh Bình Phước, nhận diện các nhân tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động này.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thứ nhất: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em.
  2. Thứ hai: Phân tích thực trạng vai trò của các phương tiện TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em ở địa phương hiện nay, bao gồm đánh giá từ phía công chúng người lớn và trẻ em.
  3. Thứ ba: Phân tích các nhân tố tác động đến vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em và dự báo xu hướng biến đổi của các vai trò này.
  4. Thứ tư: Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em trong thời gian tới.

Luận án đặt ra 5 câu hỏi nghiên cứu:

  1. TTĐC có vai trò gì để thúc đẩy tiến trình thực hiện quyền trẻ em?
  2. Người dân đánh giá thế nào về vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em?
  3. Nhân tố nào tác động đến vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em?
  4. Vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em có xu hướng biến đổi ra sao?
  5. Cần làm gì để tăng cường vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em khi vị thế của thiết chế này ngày càng được nâng cao trong xã hội?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 3 mệnh đề:

  • Giả thuyết 1: TTĐC thực hiện được vai trò vận động, khuyến khích và được công chúng đánh giá cao nhất. Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục được thực hiện tốt hơn vai trò giám sát. Vai trò giám sát không thực hiện tốt bằng vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội. TTĐC thực hiện vai trò giải trí cho trẻ em hạn chế nhất.
  • Giả thuyết 2: Việc thực hiện các vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em phụ thuộc vào đặc điểm nhân khẩu xã hội, nhận thức, thái độ về quyền trẻ em và hành vi tác nghiệp của cán bộ truyền thông.
  • Giả thuyết 3: Vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em bị chi phối bởi tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức của cơ quan truyền thông, các hoạt động truyền thông cũng như chính sách về TTĐC, quyền trẻ em và điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội của địa phương.

Đối tượng nghiên cứu là các vai trò của TTĐC tỉnh Bình Phước trong việc thực hiện quyền trẻ em ở địa phương. Khách thể nghiên cứu bao gồm: cơ quan TTĐC tỉnh; cán bộ truyền thông trực tiếp tham gia sản xuất nội dung; công chúng tiếp nhận trên địa bàn (chia thành hai nhóm: người lớn và trẻ em).

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về không gian: Tỉnh Bình Phước, khảo sát tại 4 đơn vị hành chính cấp huyện đại diện cho các vùng sinh thái kinh tế - xã hội khác nhau: thị xã Đồng Xoài (trung tâm đô thị phát triển), huyện Đồng Phú (vùng kinh tế đang phát triển), huyện Bù Đăng (huyện miền núi khó khăn) và huyện Bù Gia Mập (huyện biên giới khó khăn mới thành lập).
  • Về thời gian: Khung thời gian nghiên cứu toàn diện từ năm 2010 đến 2013; khảo sát nội dung sản phẩm truyền thông trong giai đoạn 5 tháng, từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2012 (bao hàm tháng cao điểm hành động vì trẻ em tháng 6, dịp hè tháng 7-8, khai giảng năm học mới tháng 9 và Tết Trung thu tháng 10).
  • Về nội dung phương tiện: Khảo sát 4 loại hình báo chí (báo in, truyền hình, phát thanh, báo mạng điện tử) và hệ thống truyền thanh - truyền hình cấp huyện, tập trung vào Báo Bình Phước, Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước và 4 Đài Truyền thanh - Truyền hình cấp huyện nêu trên.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích có hệ thống các khuynh hướng nghiên cứu về truyền thông và quyền trẻ em ở phạm vi quốc tế lẫn trong nước, phân định rõ 3 hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu lý luận về vai trò của truyền thông đại chúng: Trên thế giới, vai trò của TTĐC được khởi xướng nghiên cứu từ Max Weber về xã hội học báo chí, phân tích hiệu quả của báo chí trong việc định hình nhân cách và cấu trúc tầng lớp xã hội. Các nhà chức năng luận như Robert Merton phân định chức năng công khai, chức năng tiềm ẩn và các phản chức năng; Harold Lasswell xác định ba chức năng kiểm soát môi trường, liên kết xã hội và truyền tải di sản văn hóa; Charles Wright bổ sung chức năng giải trí; Daniel Lerner xem truyền thông là dấu hiệu chuyển đổi xã hội từ truyền thống sang hiện đại. Elisabeth Noelle-Neumann cảnh báo áp lực thời gian của truyền thông đối với đời sống con người; J. McLeod và J. K. Hertog nhấn mạnh vai trò kiểm soát xã hội. Michael Schudson xác lập 7 vai trò của báo chí trong nền dân chủ. Theodore Peterson định hình lý thuyết trách nhiệm xã hội của báo chí với 6 nhóm trách nhiệm và 5 đòi hỏi từ công chúng. Về mặt tiêu cực, Tichenor và cộng sự đưa ra giả thuyết "hố chênh lệch kiến thức"; Jock Young nghiên cứu sự phóng đại định kiến tội phạm. McCombs và Shaw đưa ra lý thuyết "thiết lập chương trình nghị sự". J. Klapper phân tích các cấp độ ảnh hưởng của truyền thông qua các biến trung gian tâm lý - xã hội. Peter L. Berger và Thomas Luckmann đặt nền tảng cho thuyết kiến tạo xã hội, xem truyền thông là công cụ kiến tạo các khuôn mẫu hành vi.

Tại Việt Nam, các tác giả Mai Quỳnh Nam, Tạ Ngọc Tấn, Trương Xuân Trường, Lê Thanh Bình, Đỗ Chí Nghĩa đã khẳng định TTĐC là thiết chế xã hội cơ bản, thực hiện các chức năng thông tin, giáo dục, liên kết xã hội, thiết lập dư luận và giám sát quyền lực. Các nghiên cứu chỉ ra rằng thông điệp truyền thông tác động tới nhận thức không theo cơ chế cơ học một chiều mà phải qua các bộ lọc xã hội, qua thủ lĩnh ý kiến và mạng lưới giao tiếp liên cá nhân.

Hướng nghiên cứu phương pháp luận: Nghiên cứu của viện Publizistik tại Đại học Mainz (1968) và nghiên cứu của Funkhouser tại Mỹ đã chứng minh hiệu quả của việc kết hợp kỹ thuật phân tích nội dung thông điệp với dữ liệu điều tra dư luận xã hội và số liệu thống kê độc lập. Phương pháp ký hiệu học của Roland Barthes phân tích các cấp độ nghĩa biểu cảm và nghĩa trực chỉ. Ở Việt Nam, phương pháp phân tích nội dung định lượng đã được ứng dụng trong nghiên cứu truyền thông của Nguyễn Hồng Thái, Mai Quỳnh Nam, Phạm Hương Trà.

Hướng nghiên cứu thực nghiệm về truyền thông và trẻ em: Báo cáo quốc tế "Children in the news" do Anura Goonasekera chủ biên khái quát bức tranh truyền thông tại châu Á: dù trẻ em chiếm khoảng 40% dân số, các chương trình thực sự dành cho trẻ em chiếm tỷ lệ rất thấp và bị thương mại hóa; Ubonrat Siriyuvasak và Metta Vivattananukul phân tích tình trạng truyền thông Thái Lan vi phạm đạo đức báo chí, làm méo mó hình ảnh trẻ em; Toshiko Miyazaki nghiên cứu tại Nhật Bản chỉ ra mặt trái của việc kịch tính hóa bạo lực đối với tâm lý trẻ thơ; Helena Thorfinn phân tích mô hình 3 chữ P (Bảo vệ - Protection, Cung cấp - Provision, Tham gia - Participation) và hiện tượng trẻ em bị biến thành công cụ biểu diễn trên truyền hình. Tại Việt Nam, công trình của Trịnh Duy Luân và Mai Quỳnh Nam (1999), nghiên cứu của Mai Quỳnh Nam về báo Thiếu nhi dân tộc, khảo sát của Nguyễn Thị Vân Anh về điều kiện kinh tế - kỹ thuật nông thôn, tài liệu hướng dẫn của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thụy Điển (năm 2000) và các hội thảo của Hội Nhà báo Việt Nam (2013) đều phản ánh sự thiếu hụt kiến thức chuyên sâu và kỹ năng nhân văn của phóng viên khi đưa tin về trẻ em.

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn: Phần lớn các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ tập trung vào báo chí Trung ương, phân tích đơn lẻ trên từng loại hình báo in hoặc truyền hình, thuần túy tiếp cận từ góc độ nghiệp vụ báo chí hoặc bảo trợ xã hội. Chưa có công trình xã hội học nào nghiên cứu đồng bộ trên cả 4 loại hình báo chí kết hợp hệ thống truyền thanh cấp huyện; đồng thời khảo sát thực chứng tương tác hai chiều giữa bên phát tin (cơ quan, cán bộ truyền thông) và bên nhận tin (công chúng người lớn và trẻ em) tại một tỉnh có tính chất đa dân tộc, trung du - miền núi như Bình Phước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về trẻ em và báo chí cách mạng. Bốn lý thuyết xã hội học chuyên ngành được vận dụng làm khung tiếp cận chính:

  1. Mô hình truyền thông chu kỳ của Roman Jakobson (1960): Quá trình truyền thông được cấu trúc thành chu trình khép kín gồm: người phát tin, phác thảo thông điệp, mã hóa, kênh truyền tin, nhận tin, giải mã, giải thích thông điệp và gửi phản hồi (feedback). Jakobson chỉ ra sự can thiệp của các "bộ lọc" (filtering) và "tiếng ồn" (noise). Luận án ứng dụng mô hình này để phân tích hai trục tiếp nhận thông điệp: trục nhận thức (học vấn, tri thức pháp luật) và trục cảm xúc (tâm lý, định kiến xã hội), giải thích nguyên nhân thông điệp về quyền trẻ em có thể bị khúc xạ hoặc hiểu sai lệch giữa nhà báo và công chúng.
  2. Thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger và Thomas Luckmann: Tiếp cận việc truyền thông đại chúng tham gia kiến tạo thực tại xã hội bằng cách định hình các khuôn mẫu hành vi, kịch bản ứng xử về quyền trẻ em. Các cá nhân nội tâm hóa các chuẩn mực từ truyền thông, biến chúng thành quy tắc sống thường nhật. Đồng thời, công chúng không hoàn toàn thụ động mà có tính chủ động chọn lọc, tương tác trở lại để điều chỉnh các giá trị văn hóa cộng đồng.
  3. Lý thuyết trung gian về vai trò - tập hợp (role-set) của Robert Merton (1957): Mỗi vị thế xã hội của nhà truyền thông bao hàm một tập hợp nhiều vai trò đồng thời. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ truyền thông về trẻ em, người làm báo phải điều hòa quan hệ với công chúng, cơ quan quản lý, tổ chức chính trị - xã hội và thị trường thông tin, dẫn tới nguy cơ xuất hiện các căng thẳng, xung đột vai trò.
  4. Cách tiếp cận dựa trên quyền trẻ em: Luận án dựa trên 4 nhóm quyền theo CRC (sống còn, phát triển, bảo vệ, tham gia) và 10 quyền luật định theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 để làm thước đo đánh giá nội dung thông điệp.

Bảng đối chiếu hệ thống quyền trẻ em giữa CRC và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 được tác giả hệ thống hóa:

Nhóm quyền theo CRC (15 quyền cụ thể) 10 quyền cơ bản theo Luật Việt Nam năm 2004
1. Được sống và phát triển
2. Được có họ tên và quốc tịch
3. Được giữ gìn bản sắc
4. Được sống với cha mẹ
5. Được đoàn tụ gia đình
6. Được tự do biểu đạt
7. Được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội
8. Được an toàn xã hội
9. Được bảo vệ đời tư
10. Được nghỉ ngơi, giải trí, sinh hoạt văn hóa
11. Được bảo vệ khỏi bóc lột kinh tế, việc nguy hiểm
12. Được phục hồi thể chất, tâm lý và tái hòa nhập
13. Được tự do kết giao, hội họp hòa bình
14. Được chăm sóc sức khỏe, dịch vụ y tế
15. Được tiếp xúc thông tin đa dạng (đã kiểm duyệt)
1. Được khai sinh và có quốc tịch
2. Được chăm sóc, nuôi dưỡng
3. Được sống chung với cha mẹ
4. Được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự
5. Được chăm sóc sức khỏe
6. Được học tập
7. Được vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, du lịch
8. Được phát triển năng khiếu
9. Được có tài sản
10. Được tiếp cận thông tin, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt động xã hội

Luận án vận dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật định lượng và định tính:

Phương pháp định lượng:

  1. Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc tiêu chuẩn hóa:
  • Nhóm công chúng người lớn: Địa bàn khảo sát gồm 8 xã, phường, thị trấn thuộc 4 huyện/thị (xã Tân Thành và phường Tân Phú thuộc TX. Đồng Xoài; xã Tân Lợi và thị trấn Tân Phú thuộc huyện Đồng Phú; xã Thọ Sơn và thị trấn Đức Phong thuộc huyện Bù Đăng; xã Phú Riềng và xã Long Hà thuộc huyện Bù Gia Mập). Tổng số dân tại địa bàn là N = 19.088 người. Áp dụng công thức chọn mẫu xác suất với hệ số tin cậy t = 1,96 (độ tin cậy 95%), sai số cho phép d = 4%. Mẫu chọn ngẫu nhiên hệ thống từ danh sách chủ hộ gia đình có trẻ em là 582 người; số phiếu hợp lệ thu về là 535 phiếu (đạt tỷ lệ 91,9%).
  • Nhóm công chúng trẻ em (từ 12 đến dưới 16 tuổi): Học sinh các trường tiểu học và trung học cơ sở tại TX. Đồng Xoài và huyện Đồng Phú. Tổng dân số trẻ em nhóm này là N = 26.184; áp dụng t = 1,96, sai số d = 6%. Cỡ mẫu phát ra 264 phiếu; số phiếu hợp lệ thu về là 206 phiếu (đạt tỷ lệ 78,0%).
  • Nhóm cán bộ truyền thông: Chọn ngẫu nhiên cán bộ lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên tại các cơ quan khảo sát. Cỡ mẫu phát ra 185 phiếu; thu về 164 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 88,6%).
  1. Phân tích nội dung định lượng thông điệp truyền thông: Xây dựng khung mã hóa các phạm trù về trẻ em và xử lý bằng phần mềm SPSS đối với toàn bộ 2.222 sản phẩm truyền thông được đăng phát từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2012.

Phương pháp định tính:

  • Phân tích tài liệu: Nghiên cứu các chủ trương, văn bản luật, nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bình Phước và các báo cáo chuyên đề về trẻ em.
  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện 29 cuộc phỏng vấn sâu với các bên liên quan, bao gồm: 3 lãnh đạo và 4 cán bộ cơ quan báo chí cấp tỉnh; 3 lãnh đạo và 2 cán bộ đài truyền thanh cấp huyện; 1 lãnh đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy; 1 lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông; 1 lãnh đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; 7 công chúng người lớn và 7 công chúng trẻ em.
  • Thảo luận nhóm: Tổ chức 4 cuộc thảo luận nhóm với phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí địa phương.
  • Phương pháp quan sát khoa học: Khảo sát thực địa hành vi tiếp nhận sản phẩm truyền thông và môi trường thực thi quyền trẻ em tại cộng đồng dân cư.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương này tập trung tổng kết các xu hướng học thuật trên thế giới và ở Việt Nam theo 3 tuyến nội dung:

  • Tuyến lý luận: Điểm luận quan điểm của các học giả cổ điển và hiện đại về chức năng, vai trò xã hội của báo chí truyền thông. Khẳng định TTĐC là một định chế quyền lực, tham gia định hình nhận thức cộng đồng nhưng chịu sự chi phối chặt chẽ bởi các nhóm lợi ích, ý thức hệ và cơ chế gác cổng (gate-keeping).
  • Tuyến phương pháp luận: Phân tích tiến trình phát triển của các công cụ xã hội học trong đo lường hiệu quả truyền thông, đặc biệt là sự kết hợp giữa kỹ thuật phân tích nội dung văn bản (content analysis) với khảo sát dư luận xã hội học nhằm giải mã các giá trị ẩn chìm sau thông điệp.
  • Tuyến thực nghiệm về trẻ em: Làm rõ thực trạng trẻ em xuất hiện trên truyền thông toàn cầu thường bị đóng khung trong các sự kiện giật gân, bi kịch hóa hoặc bị khai thác vì mục đích thương mại. Tại Việt Nam, các nghiên cứu đi trước chỉ ra rằng báo chí đã bắt đầu quan tâm tới việc bảo vệ quyền trẻ em nhưng nội dung còn tản mạn, thiếu tính hệ thống, việc truyền thông về quyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập.
  • Luận án xác định rõ vị trí của mình: là công trình chuyên biệt đầu tiên phân tích thực trạng vai trò của hệ thống TTĐC cấp tỉnh trong việc thực hiện quyền trẻ em dưới lăng kính xã hội học thực chứng.

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chương 2 làm rõ các khái niệm bản lề và xác lập khung phân tích:

  • Làm rõ khái niệm TTĐC (mass communication) như một quá trình tương tác xã hội qua các phương tiện kỹ thuật (mass media); phân biệt các nhóm công chúng đích, công chúng trực tiếp và gián tiếp. Định nghĩa quyền trẻ em theo luật pháp Việt Nam (người dưới 16 tuổi) và Công ước CRC (người dưới 18 tuổi). Xác lập khái niệm "vai trò của TTĐC trong thực hiện quyền trẻ em" gồm 5 nhóm vai trò chức năng: thông tin - tuyên truyền - giáo dục; hình thành và thể hiện dư luận xã hội; vận động - khuyến khích; giám sát; giải trí cho trẻ em.
  • Phân tích sâu sắc sự tương thích của 4 khung lý thuyết (mô hình chu kỳ Jakobson, thuyết kiến tạo xã hội Berger, lý thuyết vai trò - tập hợp Merton và tiếp cận quyền) với thực tiễn nghiên cứu truyền thông địa phương.
  • Thiết lập khung phân tích với 3 nhóm biến số:
    • Biến độc lập: Tôn chỉ, mục đích, cơ cấu tổ chức của cơ quan truyền thông; loại hình và thời điểm truyền thông; đặc điểm nhân khẩu, nhận thức và đạo đức tác nghiệp của cán bộ truyền thông.
    • Biến phụ thuộc: Mức độ và chất lượng thực hiện 5 vai trò của TTĐC đối với quyền trẻ em (đo lường qua số lượng sản phẩm, chất lượng nội dung và đánh giá của công chúng).
    • Biến can thiệp: Hệ thống văn bản pháp lý (CRC, Luật Trẻ em); bối cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội địa phương (dân trí, điều kiện tiếp cận kỹ thuật, phong tục tập quán).
  • Khái quát bối cảnh thực tiễn tỉnh Bình Phước: địa bàn có vị trí chiến lược vùng Đông Nam Bộ, diện tích rộng, có 41 dân tộc anh em cùng sinh sống, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm gần 20%, điều kiện kinh tế - xã hội giữa các huyện biên giới, vùng sâu và trung tâm thị xã có khoảng cách phát triển đáng kể.

Chương 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY

Chương 3 trình bày các kết quả định lượng và định tính thu được từ mẫu khảo sát:

Bảng cơ cấu mẫu phân tích nội dung 2.222 sản phẩm truyền thông (từ tháng 6 đến tháng 10/2012):

Cơ quan truyền thông Số lượng sản phẩm Tỷ lệ (%)
1. Báo Bình Phước 218 9,8
- Báo in 149 6,7
- Báo điện tử 69 3,1
2. Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước 1.624 73,1
- Kênh truyền hình BPTV1 556 25,0
- Kênh truyền hình BPTV2 608 27,4
- Sóng phát thanh 460 20,7
3. Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện Bù Gia Mập 39 1,8
4. Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện Bù Đăng 56 2,5
5. Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện Đồng Phú 109 4,9
6. Đài Truyền thanh - Truyền hình thị xã Đồng Xoài 176 7,9
Tổng cộng 2.222 100,0

Bảng đặc điểm xã hội của các mẫu điều tra:

Tiêu chí Công chúng người lớn (N=535) Công chúng trẻ em (N=206) Cán bộ truyền thông (N=164)
Độ tuổi trung bình 43,3 tuổi 13,6 tuổi 34,0 tuổi
Giới tính Nam: 52,0%
Nữ: 48,0%
Nam: 44,3%
Nữ: 55,7%
Nam: 50,0%
Nữ: 50,0%
Nơi cư trú Đô thị: 57,7%
Nông thôn: 42,3%
Đô thị: 88,9%
Nông thôn: 11,1%
-
Thành phần dân tộc Dân tộc Kinh: 91,8%
Thiểu số: 8,2%
Dân tộc Kinh: 97,4%
Thiểu số: 2,6%
Dân tộc Kinh: 92,7%
Thiểu số: 7,3%
Trình độ học vấn Đại học: 27,2%
Cao đẳng/Trung cấp: 12,3%
Tốt nghiệp THPT: 18,7%
THCS trở xuống: 41,8%
Lớp 7: 25,3%
Lớp 8: 54,7%
Lớp 9: 20,0%
Trên đại học: 2,4%
Đại học: 80,5%
Chuyên môn báo chí: 57,7%
Nghề nghiệp chính Công chức: 51,1%
Nông dân: 27,7%
Khác: 21,2%
Học sinh Cán bộ lãnh đạo, PV, BTV
Mức độ tiếp cận sản phẩm Đài PT-TH tỉnh: 90,1%
Báo in: 74,8%
Đài huyện: 61,1%
Báo điện tử: 30,0%
Theo dõi chương trình thiếu nhi trên BPTV Thâm niên công tác trung bình: 9,6 năm

Phân tích thực trạng thực hiện 5 vai trò từ thông điệp và ý kiến đánh giá:

  • Vai trò thông tin, tuyên truyền, giáo dục: Chiếm tỷ trọng sản phẩm cao nhất, tập trung vào việc phổ biến các văn bản chỉ đạo của chính quyền địa phương, các đợt phát động Tháng hành động vì trẻ em. Tuy nhiên, nội dung còn nặng tính một chiều, thiếu các bài viết chuyên sâu giải thích cặn kẽ khía cạnh pháp lý của từng nhóm quyền.
  • Vai trò hình thành và thể hiện dư luận xã hội: Các phương tiện đã phản ánh kịp thời các vụ việc xâm phạm trẻ em, lên án các hành vi bạo lực học đường, tạo sự quan tâm trong cộng đồng. Dẫu vậy, tính tương tác đa chiều còn hạn chế, các diễn đàn để công chúng tranh luận hoặc phản hồi chính sách chưa được mở rộng thường xuyên.
  • Vai trò vận động, khuyến khích: Thực hiện rất nổi bật qua các phóng sự kêu gọi hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em nghèo vượt khó, vận động xây dựng quỹ học bổng, nhà tình thương. Đây là vai trò nhận được sự đồng thuận và đánh giá tích cực nhất từ công chúng người lớn.
  • Vai trò giám sát: Đây là mắt xích còn nhiều hạn chế. Số lượng tác phẩm mang tính chất điều tra, phê phán các hành vi buông lỏng quản lý, vi phạm môi trường sống an toàn của trẻ em còn chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn. Các đài huyện hầu như không có tác phẩm điều tra giám sát độc lập.
  • Vai trò giải trí cho trẻ em: Sản phẩm truyền thông tự sản xuất dành riêng cho lứa tuổi thiếu nhi còn ít ỏi và đơn điệu. Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh chủ yếu phát lại phim hoạt hình hoặc chương trình mua bản quyền từ bên ngoài; trẻ em tại địa bàn nông thôn, vùng sâu vùng xa còn thiếu các sân chơi văn hóa - giải trí bổ ích trên sóng truyền hình địa phương.

Chương 4: YẾU TỐ TÁC ĐỘNG; XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM

Chương này luận giải các nhân tố ảnh hưởng và vạch ra định hướng phát triển:

  • Nhóm yếu tố chủ quan từ cơ quan và người làm truyền thông: Tôn chỉ, mục đích chính trị của tờ báo chi phối khung lịch phát sóng; cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế; đội ngũ phóng viên được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực trẻ em chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ; nhận thức của một bộ phận người làm báo về CRC và các quy định pháp luật bảo vệ bí mật đời tư của trẻ còn mơ hồ, dẫn đến các sai sót nghiệp vụ khi đưa tin, chụp ảnh trẻ em bị tổn thương.
  • Nhóm yếu tố khách quan từ môi trường kinh tế - xã hội: Địa bàn cư trú phân tán, giao thông cách trở; điều kiện kinh tế của các hộ gia đình nghèo ảnh hưởng tới cơ hội sở hữu máy thu hình, máy vi tính; trình độ dân trí và rào cản ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số làm giảm mức độ thấu cảm thông điệp; văn hóa gia đình truyền thống đôi khi xem việc dạy con bằng bạo lực là "chuyện nội bộ", cản trở công tác truyền thông thực thi quyền trẻ em.
  • Dự báo xu hướng biến đổi: Xu hướng số hóa, sự phát triển của internet và báo điện tử sẽ thu hút mạnh mẽ thị hiếu của giới trẻ; vai trò tương tác trực tiếp của công chúng sẽ gia tăng, buộc các cơ quan truyền thông truyền thống phải đổi mới mô hình quản trị và phương thức biểu đạt nếu không muốn mất dần công chúng.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Nâng cao nhận thức lý luận chính trị, nghiệp vụ chuyên môn và đạo đức làm báo cho đội ngũ phóng viên phụ trách đề tài trẻ em; tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng tiếp cận trẻ em nạn nhân.
    • Đổi mới nội dung và hình thức sản phẩm truyền thông: tăng cường các thể loại điều tra xã hội học, phóng sự chuyên đề, giảm bớt tin tức hành chính; tăng thời lượng phát sóng tiếng dân tộc (S'tiêng, Khmer) trên đài phát thanh - truyền hình.
    • Hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan truyền thông với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo, Tỉnh đoàn và chính quyền địa phương.
    • Tăng cường đầu tư hạ tầng kỹ thuật, phủ sóng truyền thanh cơ sở đến tận các thôn ấp vùng sâu, vùng biên giới.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đóng góp các luận điểm học thuật và giá trị ứng dụng cụ thể:

Về mặt lý luận:

  • Luận án là công trình nghiên cứu thực nghiệm ứng dụng tích hợp mô hình truyền thông chu kỳ của Roman Jakobson, thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger và lý thuyết tập hợp vai trò của Robert Merton vào một đề tài cụ thể thuộc lĩnh vực Xã hội học truyền thông đại chúng tại Việt Nam.
  • Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ hệ khái niệm về vai trò của TTĐC đối với việc thực hiện quyền trẻ em, kiểm chứng các lý thuyết xã hội học phương Tây trong điều kiện thực tiễn của một tỉnh đang trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội.

Về mặt thực tiễn:

  • Luận án cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm toàn diện, phản ánh chân thực thực trạng truyền thông về quyền trẻ em trên 4 loại hình báo chí và hệ thống truyền thanh cấp huyện tại tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 2010 - 2013.
  • Chỉ ra sự mất cân đối rõ rệt trong việc phân bổ dung lượng thông điệp giữa các thời điểm trong năm (dồn nén vào các tháng cao điểm như tháng 6, tháng 9 và sụt giảm mạnh trong các tháng thường); vạch rõ các ranh giới yếu kém trong việc thực hiện vai trò giám sát và vai trò giải trí cho trẻ em.
  • Cung cấp cơ sở khoa học để Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Phước hoạch định các chính sách chỉ đạo, định hướng tuyên truyền phù hợp với đặc thù một tỉnh miền núi, biên giới, đa dân tộc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Khảo sát định lượng nội dung thông điệp chỉ giới hạn trong khung thời gian 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2012), dù mang tính đại diện cho các thời điểm cao điểm và bình thường nhưng chưa bao quát được toàn bộ chu kỳ một năm hoàn chỉnh.
  • Phạm vi địa bàn khảo sát công chúng người lớn mới tiến hành tại 4 trên tổng số các huyện, thị của tỉnh Bình Phước; mẫu khảo sát công chúng trẻ em chủ yếu tập trung vào học sinh trung học cơ sở và tiểu học tại khu vực trung tâm và vùng phát triển, chưa khảo sát sâu nhóm trẻ em lang thang cơ nhỡ hoặc trẻ em khuyết tật.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh liên tỉnh giữa các vùng kinh tế - xã hội khác nhau trên toàn quốc.
  • Đi sâu nghiên cứu tác động của mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số thế hệ mới đối với hành vi và nhận thức thực thi quyền trẻ em trong bối cảnh công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp chặt chẽ giữa định tính và định lượng, đặc biệt là quy trình xây dựng bảng mã hóa nội dung thông điệp (content analysis) bằng phần mềm SPSS và quy trình tính toán mẫu xác suất trong xã hội học truyền thông.
  • Đối với giảng viên: Là tài liệu tham khảo thực tế cho các bài giảng chuyên đề về Xã hội học Truyền thông đại chúng, Xã hội học Gia đình và Trẻ em, Xã hội học Dư luận xã hội.
  • Đối với nhà báo và các cơ quan truyền thông địa phương: Là nguồn tài liệu nghiệp vụ giúp nhận diện các lỗi tác nghiệp phổ biến khi đưa tin về trẻ em, từ đó chuẩn hóa quy tắc đạo đức báo chí và nâng cao kỹ năng phản ánh quyền trẻ em.
  • Đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho các cơ quan quản lý nhà nước về thông tin, tuyên giáo, công tác xã hội để thiết kế các chiến dịch truyền thông cộng đồng đạt hiệu quả xã hội thực chất.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu sản phẩm truyền thông và thuộc những cơ quan báo chí nào?
Luận án tiến hành mã hóa và phân tích 2.222 sản phẩm truyền thông phát sóng và đăng tải từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2012, bao gồm: Báo Bình Phước (218 sản phẩm, gồm 149 sản phẩm báo in và 69 sản phẩm báo điện tử); Đài Phát thanh và Truyền hình Bình Phước (1.624 sản phẩm, gồm 556 sản phẩm trên kênh BPTV1, 608 sản phẩm trên kênh BPTV2 và 460 sản phẩm trên sóng phát thanh); cùng 380 sản phẩm truyền thanh của 4 Đài Truyền thanh - Truyền hình cấp huyện (Đồng Xoài: 176; Đồng Phú: 109; Bù Đăng: 56; Bù Gia Mập: 39).

2. Quy mô mẫu điều tra xã hội học và tỷ lệ phản hồi hợp lệ trong luận án được xác định ra sao?
Nghiên cứu khảo sát 3 nhóm đối tượng bằng bảng hỏi chuẩn hóa: nhóm công chúng người lớn thu về 535 phiếu hợp lệ trên 582 phiếu phát ra (đạt 91,9%) tại 8 xã, thị trấn; nhóm công chúng trẻ em từ 12 đến dưới 16 tuổi thu về 206 phiếu hợp lệ trên 264 phiếu phát ra (đạt 78,0%) tại các trường tiểu học và THCS; nhóm cán bộ truyền thông thu về 164 phiếu hợp lệ trên 185 phiếu phát ra (đạt 88,6%).

3. Bốn khung lý thuyết xã hội học cốt lõi được tác giả vận dụng là gì?
Tác giả ứng dụng tích hợp: Mô hình truyền thông chu kỳ của Roman Jakobson; Thuyết kiến tạo xã hội của Peter L. Berger và Thomas Luckmann; Lý thuyết trung gian về vai trò - tập hợp (role-set) của Robert Merton; và Cách tiếp cận dựa trên quyền trẻ em theo khung Công ước CRC và pháp luật Việt Nam.

4. Luận án xác định các vai trò cơ bản nào của truyền thông đại chúng đối với quyền trẻ em?
Luận án xác định 5 vai trò chức năng gắn liền với nhau: (1) Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về thực hiện quyền trẻ em; (2) Hình thành và thể hiện dư luận xã hội; (3) Vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em; (4) Giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em; và (5) Giải trí cho trẻ em.

5. Điểm khác biệt về độ tuổi trẻ em giữa Công ước quốc tế CRC và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2004 được luận án chỉ ra là gì?
Theo Điều 1 Công ước CRC, trẻ em là người dưới 18 tuổi; trong khi theo Điều 1 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam, trẻ em được quy định là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Luận án nghiên cứu căn cứ trên chuẩn khung luật định của Việt Nam là đối tượng công dân dưới 16 tuổi.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Nhâm là một công trình nghiên cứu xã hội học thực chứng chuyên sâu về vai trò của truyền thông đại chúng trong việc thực thi quyền trẻ em ở cấp độ địa phương. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa phân tích nội dung thông điệp với điều tra xã hội học đa chiều, luận án đã làm rõ các điểm nghẽn về tính mùa vụ trong thông tin, sự hạn chế của vai trò giám sát và vai trò giải trí cho trẻ thơ tại tỉnh Bình Phước. Các phát hiện và hệ thống giải pháp liên ngành được đề xuất trong luận án mang lại giá trị thiết thực cho công tác quản lý báo chí, nâng cao đạo đức tác nghiệp truyền thông và thúc đẩy việc bảo đảm toàn diện các quyền của trẻ em trên thực tế.