Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Thực Hiện Quyền Trẻ Em Tại Tỉnh Bình Phước

Luận án tiến sĩ nghiên cứu vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh bình phước hiện nay, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

229
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở thực tiễn nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC HIỆN NAY

3.1. Khái quát tình hình truyền thông về đề tài trẻ em ở tỉnh Bình Phước hiện nay

3.2. Vai trò của truyền thông đại chúng tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em, từ nội dung thông điệp truyền thông

3.3. Ý kiến của công chúng về vai trò của truyền thông đại chúng tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em

4. CHƯƠNG 4: YẾU TỐ TÁC ĐỘNG; XU HƯỚNG BIỂN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG TỈNH BÌNH PHƯỚC TRONG THỰC HIỆN QUYỀN TRẺ EM

4.1. Yếu tố tác động đến vai trò của truyền thông đại chúng tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em hiện nay

4.2. Dự báo xu hướng biển đổi vai trò của truyền thông đại chúng tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em thời gian tới

4.3. Giải pháp tăng cường vai trò của truyền thông đại chúng tỉnh Bình Phước trong thực hiện quyền trẻ em

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Truyền Thông Đại Chúng và Quyền Trẻ Em tại Bình Phước

Truyền thông đại chúng đóng vai trò then chốt trong việc định hình nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng, đặc biệt trong bối cảnh xã hội thông tin ngày nay. Tại tỉnh Bình Phước, việc sử dụng truyền thông đại chúng để tuyên truyền, giáo dục về quyền trẻ em là một ưu tiên. Đảng và Nhà nước ta coi nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một nội dung cơ bản của chiến lược con người trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước, phù hợp với truyền thống đạo lý tốt đẹp “kính già, yêu trẻ” của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền trẻ em vẫn còn nhiều thách thức, đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa của truyền thông đại chúng. Nghiên cứu này sẽ đi sâu vào vai trò của truyền thông đại chúng trong việc thực hiện quyền trẻ em tại Bình Phước, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả.

1.1. Khái niệm và tầm quan trọng của truyền thông đại chúng

Truyền thông đại chúng là hệ thống các phương tiện truyền tải thông tin đến đông đảo công chúng, bao gồm báo chí, truyền hình, phát thanh, internet và mạng xã hội. Tầm quan trọng của truyền thông đại chúng nằm ở khả năng lan tỏa thông tin nhanh chóng, rộng rãi, tác động sâu sắc đến dư luận xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, truyền thông đại chúng trở thành một công cụ không thể thiếu trong việc tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em.

1.2. Quyền trẻ em theo Công ước Quốc tế và pháp luật Việt Nam

Quyền trẻ em là tập hợp các quyền mà mọi trẻ em trên thế giới đều được hưởng, bao gồm quyền sống, quyền được bảo vệ, quyền được phát triển và quyền được tham gia. Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em (CRC) là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất về quyền trẻ em. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký kết CRC, thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc bảo vệ quyền trẻ em. Pháp luật Việt Nam cũng quy định rõ các quyền trẻ em và trách nhiệm của gia đình, nhà trường, xã hội trong việc thực hiện quyền trẻ em.

1.3. Vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em

Truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về quyền trẻ em, thay đổi thái độ và hành vi của cộng đồng đối với trẻ em. Truyền thông đại chúng có thể thông tin, tuyên truyền, giáo dục về quyền trẻ em, vận động, khuyến khích thực hiện quyền trẻ em, giám sát tình hình thực hiện quyền trẻ em, và giải trí cho trẻ em. Tuy nhiên, truyền thông đại chúng cũng cần tránh lạm dụng trẻ em, vi phạm quyền trẻ em.

II. Thực Trạng Truyền Thông về Quyền Trẻ Em tại Tỉnh Bình Phước Hiện Nay

Thực tế cho thấy, truyền thông về quyền trẻ em tại tỉnh Bình Phước đã có những bước tiến đáng kể. Các cơ quan truyền thông đại chúng đã tích cực đưa tin, phản ánh về các vấn đề liên quan đến trẻ em, góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập trong nội dung, hình thức và phương pháp truyền thông. Cần có những đánh giá khách quan, toàn diện để có thể đưa ra những giải pháp phù hợp, hiệu quả.

2.1. Mức độ phủ sóng của thông tin về quyền trẻ em trên các kênh truyền thông

Mức độ phủ sóng của thông tin về quyền trẻ em trên các kênh truyền thông tại Bình Phước còn chưa đồng đều. Báo in và truyền hình có tần suất đưa tin cao hơn so với phát thanh và báo mạng điện tử. Các vấn đề được quan tâm nhiều nhất là bạo lực trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em, và lao động trẻ em. Tuy nhiên, thông tin về các quyền khác của trẻ em, như quyền được tham gia, quyền được phát triển, còn ít được đề cập.

2.2. Nội dung và hình thức truyền thông về quyền trẻ em Đánh giá chi tiết

Nội dung truyền thông về quyền trẻ em tại Bình Phước còn nặng về thông tin, tuyên truyền, giáo dục, ít chú trọng đến tính hấp dẫn, sinh động. Hình thức truyền thông còn đơn điệu, chủ yếu là các bài viết, phóng sự, ít có các chương trình tương tác, trò chơi, hoạt động ngoại khóa. Cần có sự đổi mới về nội dung và hình thức truyền thông để thu hút sự quan tâm của công chúng, đặc biệt là trẻ em.

2.3. Đánh giá của công chúng về hiệu quả truyền thông về quyền trẻ em

Đánh giá của công chúng về hiệu quả truyền thông về quyền trẻ em tại Bình Phước còn nhiều ý kiến trái chiều. Một bộ phận công chúng cho rằng truyền thông đã góp phần nâng cao nhận thức về quyền trẻ em, nhưng một bộ phận khác lại cho rằng truyền thông còn chưa đủ mạnh, chưa tác động sâu sắc đến hành vi của cộng đồng. Cần có những khảo sát, đánh giá khách quan, khoa học để có thể đo lường chính xác hiệu quả truyền thông.

III. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Truyền Thông Đại Chúng về Quyền Trẻ Em

Vai trò của truyền thông đại chúng trong việc thực hiện quyền trẻ em chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, từ chính sách, pháp luật đến nguồn lực, năng lực của đội ngũ cán bộ truyền thông. Việc xác định rõ các yếu tố này là cơ sở để đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp, hiệu quả.

3.1. Ảnh hưởng của chính sách pháp luật về quyền trẻ em đến truyền thông

Chính sách, pháp luật về quyền trẻ em tạo hành lang pháp lý cho hoạt động truyền thông. Tuy nhiên, nếu chính sách, pháp luật còn chồng chéo, thiếu đồng bộ, hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, sẽ gây khó khăn cho truyền thông. Cần có sự rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho truyền thông về quyền trẻ em.

3.2. Nguồn lực và năng lực của đội ngũ cán bộ truyền thông

Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực của đội ngũ cán bộ truyền thông là những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả truyền thông. Nếu nguồn lực hạn chế, đội ngũ cán bộ thiếu chuyên nghiệp, sẽ khó có thể tạo ra những sản phẩm truyền thông chất lượng cao, thu hút sự quan tâm của công chúng. Cần có sự đầu tư thích đáng cho truyền thông và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ.

3.3. Vai trò của gia đình nhà trường và cộng đồng trong truyền thông về quyền trẻ em

Gia đình, nhà trường và cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thông về quyền trẻ em. Nếu gia đình, nhà trường và cộng đồng không quan tâm đến quyền trẻ em, hoặc có những hành vi vi phạm quyền trẻ em, sẽ làm giảm hiệu quả truyền thông của truyền thông đại chúng. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa truyền thông đại chúng và gia đình, nhà trường, cộng đồng trong việc truyền thông về quyền trẻ em.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Vai Trò Truyền Thông Đại Chúng về Quyền Trẻ Em

Để nâng cao vai trò của truyền thông đại chúng trong việc thực hiện quyền trẻ em tại tỉnh Bình Phước, cần có những giải pháp đồng bộ, toàn diện, tập trung vào việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, tăng cường nguồn lực, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ truyền thông, và tăng cường sự phối hợp giữa các bên liên quan.

4.1. Hoàn thiện chính sách pháp luật về quyền trẻ em và truyền thông

Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về quyền trẻ emtruyền thông để tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động truyền thông. Cần có những quy định cụ thể về trách nhiệm của truyền thông đại chúng trong việc thực hiện quyền trẻ em, và có chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền trẻ em của truyền thông đại chúng.

4.2. Tăng cường nguồn lực cho truyền thông về quyền trẻ em

Cần tăng cường nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật cho truyền thông về quyền trẻ em. Cần có những chương trình, dự án đầu tư cho việc sản xuất các sản phẩm truyền thông chất lượng cao, thu hút sự quan tâm của công chúng. Cần có sự hỗ trợ về kinh phí cho các cơ quan truyền thông trong việc thực hiện các hoạt động truyền thông về quyền trẻ em.

4.3. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ truyền thông

Cần nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ truyền thông về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong việc thực hiện truyền thông về quyền trẻ em. Cần có những khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ. Cần có sự khuyến khích, động viên đội ngũ cán bộ trong việc sáng tạo ra những sản phẩm truyền thông chất lượng cao.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu về Quyền Trẻ Em

Nghiên cứu này không chỉ mang tính lý luận mà còn có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động về truyền thông về quyền trẻ em tại tỉnh Bình Phước. Kết quả nghiên cứu cũng có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông về quyền trẻ em.

5.1. Xây dựng chương trình truyền thông về quyền trẻ em dựa trên kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng chương trình truyền thông về quyền trẻ em phù hợp với đặc điểm của tỉnh Bình Phước. Chương trình truyền thông cần tập trung vào những vấn đề ưu tiên, như bạo lực trẻ em, xâm hại tình dục trẻ em, và lao động trẻ em. Chương trình truyền thông cần có sự tham gia của các bên liên quan, như gia đình, nhà trường, cộng đồng.

5.2. Đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông về quyền trẻ em

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các hoạt động truyền thông về quyền trẻ em. Việc đánh giá cần dựa trên các tiêu chí khách quan, khoa học, như mức độ nhận thức của công chúng, sự thay đổi về thái độ và hành vi của cộng đồng. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung các hoạt động truyền thông.

VI. Kết Luận và Tầm Quan Trọng Của Truyền Thông Về Quyền Trẻ Em

Nghiên cứu này đã làm rõ vai trò quan trọng của truyền thông đại chúng trong việc thực hiện quyền trẻ em tại tỉnh Bình Phước. Nghiên cứu cũng đã chỉ ra những hạn chế, bất cập trong hoạt động truyền thông và đề xuất các giải pháp khắc phục. Hy vọng rằng, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông về quyền trẻ em, góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn cho trẻ em.

6.1. Tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về quyền trẻ em, thay đổi thái độ và hành vi của cộng đồng đối với trẻ em. Tuy nhiên, hoạt động truyền thông còn nhiều hạn chế, như nội dung chưa hấp dẫn, hình thức đơn điệu, và nguồn lực hạn chế. Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp khắc phục, như hoàn thiện chính sách, pháp luật, tăng cường nguồn lực, và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ.

6.2. Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo về quyền trẻ em và truyền thông

Cần có những nghiên cứu sâu hơn về tác động của truyền thông đại chúng đến hành vi của trẻ em. Cần có những nghiên cứu về vai trò của mạng xã hội trong việc truyền thông về quyền trẻ em. Cần có những nghiên cứu về hiệu quả của các mô hình truyền thông sáng tạo về quyền trẻ em.

08/06/2025
Luận án tiến sĩ vai trò của truyền thông đại chúng trong thực hiện quyền trẻ em ở tỉnh bình phước hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 1. Hướng nghiên cứu lý luận về vai trò của truyền thông đại chúng Từ đầu thế kỷ XX, với việc phát minh ra vô tuyến điện và sự ra đời của đài phát thanh chi phối đời sống tinh thần của xã hội hiện đại, TTĐC đã trở thành đối tượng nghiên cứu của xã hội học. Weber luận chứng về mặt phương pháp luận cho sự cần thiết của môn xã hội học báo chí, bản thân ông cũng là một ký giả chính trị rất nổi tiếng vạch ra các vấn đề nghiên cứu như hướng vào các tập đoàn, các tầng lớp xã hội khác nhau; phân tích các yêu cầu của xã hội đối với nhà báo; coi trọng phương pháp phân tích báo chí; phân tích hiệu quả báo chí đối với việc xây dựng con người [83, tr.

Các nhà xã hội học lý giải vai trò của TTĐC bằng các quan điểm chức năng luận.Merton bàn về chức năng công khai, chức năng tiềm ẩn và hiệu quả thực sự của TTĐC. Lasswell bàn về chức năng kiểm soát môi trường xã hội; liên kết các bộ phận của xã hội với nhau; truyền tải di sản xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác. Charles Wright bổ sung thêm chức năng giải trí. Daniel Lerner cho rằng, một trong những điều kiện và đặc điểm của quá trình chuyển đổi từ các xã hội cổ truyền sang xã hội hiện đại chính là sự chuyển tiếp từ truyền thông miệng sang TTĐC [112].

Nhà chính trị học, xã hội học người Đức Elisabeth Noelle Neumann (1916-2010) đề nghị, phải xem xét vai trò của TTĐC như một vấn đề quan trọng, ngang tầm với các vấn đề như bảo vệ môi trường và bùng nổ dân số. Bà khẳng định, ngoài việc ngủ và làm việc, với những gì TTĐC mang lại, con người gần như không còn thời gian trống [191, tr.McLeod và James K.Hertog khẳng định, TTĐC đóng một vai trò quan trọng như một công cụ kiểm soát xã hội [191, tr. Các nhà xã hội học khác quan tâm đến chức năng cảnh báo; chức năng đáp ứng nhu cầu thực tế hàng ngày của người dân trong xã hội; chức năng nâng cao một hình ảnh xã hội, hay hợp thức hóa một vị trí xã hội; chức năng củng cố sự kiểm soát của xã hội qua áp lực của dư luận xã hội. 13 TTĐC có vai trò xã hội hóa con người, thi hành các chuẩn tắc xã hội, ban phát thân trạng và giúp con người biết về môi trường xã hội [110], [121], [206].

Theo Michael Schudson, hệ thống truyền thông phục vụ nền dân chủ cần hướng đến bảy vai trò: 1. Cung cấp cho công dân những thông tin đầy đủ và công bằng; 2. Cung cấp một khuôn khổ chặt chẽ để giúp công dân có một cái nhìn tổng thể về thế giới chính trị phức tạp; 3. Đóng vai trò làm người chuyển tải chung cho các quan điểm của các nhóm người khác nhau trong xã hội; 4.

Cung cấp số lượng và chất lượng tin tức mà mọi người muốn; 5. Đại diện cho công chúng và nói lên tiếng nói của công chúng cũng như nói về lợi ích của công chúng để chính quyền biết; 6. Khơi dậy sự cảm thông và hiểu biết sâu sắc để công dân đánh giá đúng tình hình cuộc sống con người trên thế giới; 7. Cung cấp một diễn đàn đối thoại giữa những công dân, không chỉ thông tin về việc ra những quyết định dân chủ, mà phải là một quá trình, một thành tố trong đó… [71, tr.

Theodore Peterson khi viết lý thuyết trách nhiệm xã hội của báo chí cho rằng, báo chí nhận ưu đãi từ Chính phủ, bắt buộc phải có sáu trách nhiệm với xã hội là phục vụ hệ thống chính trị bằng cách cung cấp tin tức, trình bày và thảo luận các công việc công; giác ngộ để công chúng tự điều chỉnh mình; bảo vệ nhân quyền; phục vụ hệ thống kinh tế phát triển; cung cấp giải trí; là một định chế tự trị về tài chính. Có năm điều mà xã hội đòi hỏi ở báo chí là cung cấp các bản tường thuật; là “diễn đàn để trao đổi các nhận xét và chỉ trích”; phản ánh “một hình ảnh tượng trưng những nhóm tổ hợp trong xã hội”; chịu trách nhiệm về “sự trình bày và minh giải những mục tiêu và giá trị xã hội”; cung cấp đầy đủ thông tin trong ngày… [164]. Các tác giả cũng bàn nhiều về vấn đề phản chức năng của TTĐC khi TTĐC cung cấp khối lượng thông tin đồ sộ, khán thính giả sẽ trở nên tê người, chẳng thể nào có hành xử phù hợp [121]. Tichenor và các đồng nghiệp cho rằng, một trong những hậu quả xã hội có thể có của TTĐC là sự cách biệt ngày càng tăng về kiến thức, tạo nên giả thuyết về “hố chênh lệch kiến thức”.

Theo các nhà nghiên cứu, những tầng lớp xã hội có vị trí kinh tế - xã hội cao thường thu nhận thông tin nhiều hơn và nhanh hơn so với các tầng lớp ở vị trí kinh tế - xã hội thấp, do đó, khoảng cách chênh lệch giữa hai nhóm này ngày càng giãn rộng [110, tr. 14 TTĐC kiến tạo những hình ảnh khuôn mẫu trong công chúng. Jock Young đi sâu vào mối quan hệ giữa phán đoán chủ quan và những nhãn hiệu của phương tiện TTĐC liên quan đến các định nghĩa về tội phạm và vai trò của TTĐC góp phần vào việc phóng đại các hình ảnh tội phạm cho khán giả. Các nhà nữ quyền cho rằng, TTĐC đúc khuôn và thể hiện sai lạc thực tại xã hội về vai trò của nam giới và nữ giới, cũng như mối quan hệ giữa hai giới này [121, tr.

Điều này đã được Peter L.Berger bàn đến dưới góc độ lý luận về mối quan hệ giữa con người và xã hội với quan niệm con người kiến tạo nên thế giới của mình, con người vừa bị câu thúc bởi xã hội, nhưng lại vừa có sự chủ động, tích cực nhất định [dẫn theo 114]. Trong xã hội hiện đại, TTĐC được xem là một “người truyền bá” diễn ngôn. TTĐC gửi những “thông điệp” về cách thức mọi việc diễn ra, có thể diễn ra và nên diễn ra. Điều này rất đúng với nhận định của Newbold và cộng sự, những gì tái hiện trên TTĐC là “sự hình thành/kiến tạo thực tại của TTĐC.

là mối quan hệ giữa cái thuộc về tư tưởng và cái thuộc về hiện thực” [dẫn theo 58]. Sự kiến tạo nên các giá trị giới vừa là sản phẩm vừa là quá trình của những tái hiện trên TTĐC. Nghiên cứu của tổ chức Children now (Mỹ)về ảnh hưởng của TTĐC đối với trẻ em và thanh thiếu niên đã nhận xét, những hình ảnh nam giới được tái hiện trên TTĐC đã và đang củng cố, ủng hộ các thái độ xã hội về mối liên hệ giữa nam tính và quyền lực, sự ưu trội và quản lý [dẫn theo 58]. Mc Combs và Shaw đề xướng lý thuyết về chức năng “Thiết lập chương trình nghị sự” [110, tr110] với giả thuyết cho rằng, TTĐC có chức năng thu hút sự chú ý của công luận vào một số vấn đề thời sự nhất định.

Hầu hết những vấn đề mà cử tri đang quan tâm chú ý đều là những vấn đề được nhấn mạnh trên các phương tiện truyền thông. TTĐC hoàn toàn có thể lèo lái công chúng quan tâm tới một số vấn đề nào đó hoặc né tránh một số vấn đề khác. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lưu ý rằng, ý kiến hay quan điểm của công chúng đối với một vấn đề nào đó có thể không thay đổi dưới tác động của truyền thông, nhưng vẫn có thể trở thành một đề tài quan trọng đối với họ. Trong lịch sử phát triển của TTĐC đã có nhiều mô hình truyền thông: mô hình công thức 5W (ai, nói cái gì, bằng kênh nào, nói cho ai và có hiệu quả gì) của Harold Lasswell [110, tr.

Tuy nhiên, quan niệm này bị chỉ trích vì quan niệm 15 quá trình truyền tin một chiều và người ta nhận tin một cách bị động. Sau đó các nhà nghiên cứu quan niệm truyền thông là một chu kỳ như mô hình của Claude Shannon, mô hình đường nghe của Shannon và Weaver, mô hình của David Berlo, mô hình của Charles Osood và Wilbur Schramm, mô hình hội tụ của Kinkaid, mô hình tiếp thị xã hội [33, tr. Tác giả luận án nhận thấy, mô hình của Roman Jakobson là đầy đủ và hoàn thiện nhất, khi nó tính đến các yếu tố bộ lọc và các chi tiết của quá trình truyền thông theo chu kỳ. Bàn về hiệu quả, ảnh hưởng của TTĐC đến đời sống xã hội, J.Klapper cho rằng, TTĐC chưa có được hiệu quả cần thiết và đầy đủ để dẫn đến một sự thay đổi thái độ của những người sử dụng, vì một thông điệp có hiệu quả trong chừng mực nó phù hợp với thái độ và ý kiến của người tiếp nhận đã có từ trước, đến nay tăng thêm.

Uy tín của nơi phát và sự đánh giá của người tiếp nhận có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của truyền thông. Khi nội dung phát đi mới lạ với người nhận thì hiệu quả truyền thông tăng lên. Sự chọn lọc và cách tiếp thu của người tiếp nhận đối với nội dung thông điệp phụ thuộc vào tư tưởng và sự quan tâm của họ. Mạng lưới quan hệ của người tiếp nhận ảnh hưởng đến hiệu quả của truyền thông [dẫn theo 103, tr.

Klapper, các cấp độ ảnh hưởng đó như sau: 1. Mức độ ảnh hưởng cao nhất ở nhóm, cá nhân chưa có quan điểm gì về vấn đề được đề cập; 2. Mức độ ảnh hưởng trung bình ở các nhóm, các cá nhân mà quan điểm của họ về vấn đề đang định hình; 3. Mức độ ảnh hưởng thấp nhất ở các nhóm, các cá nhân đã định khuôn rõ nét quan điểm của họ, thậm chí đã hình thành những khuôn mẫu tư duy, hay định kiến về vấn đề đó [dẫn theo 137, tr.

Cái gì chi phối nội dung truyền thông? Một số nhà nghiên cứu xã hội học cho rằng, “… Bên trong các phương tiện TTĐC là một nhóm người tương đối nhỏ đang kiểm soát những gì mà dần dà vươn đến các khán thính giả, độc giả, một tiến trình có tên là sự gác cổng (gate-keeping). Thiểu số chọn lọc ấy đang quyết định những hình ảnh nào được đưa ra cho đông đảo người xem, người đọc. Tại nhiều nước, chính phủ đóng vai trò người gác cổng. Gác cổng là chuyện phổ biến trong mọi loại hình TTĐC…” [121, tr.

Người gác cổng cũng là người chủ báo, cơ quan chủ quản hay lãnh đạo cơ quan truyền thông. Nội dung truyền thông phụ thuộc vào ý thức hệ chủ đạo của giới cầm quyền mà cơ quan đó trực thuộc hoặc chịu ảnh 16 hưởng về kinh tế, chính trị [121, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề "Vai Trò Của Truyền Thông Đại Chúng Trong Thực Hiện Quyền Trẻ Em Tại Tỉnh Bình Phước" khám phá vai trò quan trọng của truyền thông đại chúng trong việc bảo vệ và thực hiện quyền trẻ em tại tỉnh Bình Phước. Tài liệu nhấn mạnh rằng truyền thông không chỉ là công cụ thông tin mà còn là phương tiện nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền lợi của trẻ em, từ đó thúc đẩy sự tham gia của xã hội trong việc bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức xâm hại và bạo lực.

Để mở rộng thêm kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Khoá luận tốt nghiệp phòng chống bạo lực gia đình đối với trẻ em thực tiễn và giải pháp", nơi cung cấp các giải pháp cụ thể nhằm bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình. Bên cạnh đó, tài liệu "Pháp luật bảo vệ quyền trẻ em ở việt nam hiện nay" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý hiện hành liên quan đến quyền trẻ em tại Việt Nam. Cuối cùng, tài liệu "Pháp luật quốc tế pháp luật nước ngoài về bảo vệ quyền trẻ em" sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy định quốc tế và so sánh với thực tiễn tại Việt Nam.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt thông tin mà còn mở ra cơ hội để tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của quyền trẻ em và vai trò của truyền thông trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em.