Chương 1 z NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA TRI THỨC ĐỐI VỚI CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực và những nhân tố quy định chất lượng nguồn nhân lực. Khái niệm nguồn nhân lực. Bất cứ một quốc gia, dân tộc nào muốn tồn tại cũng cần phải dựa vào các nguồn lực.
Nó được coi như một nhân tố tất yếu để đảm bảo cho sự phát triển kinh tế- xã hội. Nguồn lực là toàn bộ những yếu tố vật chất, tinh thần, tạo nên sức mạnh cho sự phát triển, trong những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể, có khả năng thúc đẩy quá trình cải biến xã hội của một đất nước. Khái niệm nguồn lực không chỉ nói lên sức mạnh, mà nó còn chỉ ra nơi bắt đầu, nơi khởi nguồn tạo nên sức mạnh đó, bởi vậy nguồn lực là một khái niệm rộng lớn. Theo tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn xuất phát từ các tiêu chí khác nhau, người ta có thể đưa ra nhiều cách phân loại khác nhau về nguồn lực.
Chẳng hạn, theo cách chung nhất, đó là nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần; theo quan hệ bên trong và bên ngoài thì đó là nguồn lực bên trong (con người, vốn trong nước, cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện có, vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên) và nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường …); theo quan hệ chủ thể khách thể đó là nguồn lực chủ quan (con người) và nguồn lực khách quan (tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, các nguồn vốn …); theo tầm quan trọng và thời điểm phát sinh, đó là nguồn lực cơ bản và nguồn lực phát sinh [ 13, tr. Tuy nhiên, việc phân chia các loại nguồn lực chỉ có tính chất tương đối, vì bản thân chúng đều có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với nhau. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới, nhất là các nước công nghiệp mới ở Châu Á cho thấy rằng, không chỉ tất cả các nguồn lực đều có vai trò quan trọng kể từ nguồn lực tự nhiên, vốn, nguồn nhân lực, mà ngay cả việc kết hợp các nguồn lực đó một cách khoa học cũng có vai trò hết sức quan trọng. Vì rằng các nguồn lực z như : vốn, điều kiện tự nhiên, tài nguyên khoáng sản, chỉ tồn tại với tính cách như một tiềm năng.
Chúng chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua hoạt động của con người với đầy đủ sức mạnh tri thức và nhân cách của họ. Chính vì thế, có những nước rất giàu về tài nguyên thiên nhiên, nhưng lại là nước có tốc độ phát triển thấp. Ngược lại, có những nước rất nghèo về tài nguyên nhưng biết cách đầu tư vào nguồn lực con người nên đã tạo ra bước phát triển thần kỳ và trở thành những hiện tượng lạ trong nền kinh tế thế giới. Thực tế đó đã chứng minh dù có được các nguồn lực tự nhiên, dù có cơ sở vật chất kỹ thuật được tạo ra từ giai đoạn trước đó, hay các nguồn lực từ bên ngoài dưới dạng vốn, viện trợ hay kinh nghiệm quản lý …thì nguồn lực lâu bền nhất và quan trọng nhất đối với mọi sự phát triển của các quốc gia, chỉ có thể là nguồn lực con người.
Đó là con người với tri thức và kinh nghiệm lao động, có đủ khả năng khai thác nguồn lực khác mà mỗi quốc gia có được cùng với môi trường kinh tế– chính trị xã hội, tâm lý và dư luận xã hội thuận lợi cho con người hành động. Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ những năm 60 (thế kỷ XX ) ở các nước phát triển. Ở nước ta, các nhà khoa học đã có nhiều công trình và các chuyên khảo khoa học nghiên cứu về nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Với phương pháp và các cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã trình bày về nguồn nhân lực.
Trong đề tài cấp nhà nước “ Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ”, tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “nguồn lực con người là số dân và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ năng lực và phẩm chất ” [31, tr. Trong bài viết đăng trên báo Nhân Dân, ngày 11 tháng 1 năm 1998 Thủ tướng Phan Văn Khải viết : “nguồn lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tinh thần gắn với truyền thống dân tộc ta ’’ [xem,39]. Tác giả Hoàng Chí Bảo : “Nguồn lực con người là sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển con người’’ [7, tr. z Theo Tác giả Phạm Văn Đức thì nguồn lực con người chỉ khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động, “đó không chỉ là số lượng và khả năng chuyên môn, mà còn cả trình độ văn hoá, thái độ đối với công việc và mong muốn tự hoàn thiện của lực lượng lao động’’ [29, tr.
Như vậy, bản thân nguồn nhân lực, được các tác giả coi như là yếu tố hợp thành lực lượng sản xuất và là yếu tố quan trọng nhất quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Mặt khác, nguồn nhân lực được đề cập đến như một loại vốn “vốn người” (bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng công nghệ ) cùng với các vốn vật chất khác: vốn tiền, vốn tài nguyên. Nguồn nhân lực có thể hiểu đó là nguồn lực con người, là tập hợp các yếu tố như cơ cấu dân số và nhất là chất lượng nguồn nhân lực với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội. Nguồn nhân lực được thể hiện trên các bình diện sau: - Trước hết nói nguồn nhân lực tức là nói đến người lao động, lực lượng lao động (số người trong độ tuổi lao động, những người sắp bổ sung cho nguồn lao động, và phải kể đến những người đã nghỉ hưu nhưng vẫn còn có nhiều khả năng đóng góp cho xã hội) cho nên trong thực tế để khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, trước tiên phải tạo việc làm và khai thác hợp lý nguồn lao động để có thể phát triển nền sản xuất.
- Mặt khác nguồn nhân lực còn phản ánh khía cạnh cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động trong các ngành nghề, các lĩnh vực kinh tế cũng như trình độ nguồn nhân lực, độ tuổi trong lực lượng lao động cũng như nguồn lao động trong tương lai. Bởi vì các yếu tố trong cơ cấu dân cư và lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh nguồn nhân lực. - Khái niệm về nguồn nhân lực còn phản ánh phương diện chất lượng dân số, đặc biệt là chất lượng của lực lượng lao động trong hiện tại và tương lai được thể hiện qua hàng loạt yếu tố như : sức khoẻ, mức sống, đạo đức, văn hoá và chuyên môn nghề nghiệp cũng như khả năng thích ứng. Đây là phẩm chất tạo nên z nhân cách con người , mà nói tới chất lượng nguồn nhân lực thì rất cần những phẩm chất đó.
- Nguồn nhân lực còn chỉ ra rằng, con người được xem xét với tư cách là một nguồn lực nội tại cơ bản trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội. Nhưng khác với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực vừa đóng vai trò như là chủ thể quyết định sự vận động và phát triển xã hội, lại vừa là khách thể của các quá trình kinh tế- xã hội, là đối tượng mà chính sự phát triển xã hội phải hướng vào phục vụ. Nghĩa là, nếu như các nguồn lực khác chỉ là phương tiện của sự phát triển xã hội, thì nguồn lực con người lại vừa là phương tiện (phương tiện đặc biệt) vừa là mục tiêu của chính sự phát triển xã hội”[xem 38] Như vậy, khi nói đến nguồn nhân lực và vai trò của nó, ta phải xem xét con người vừa là tư cách chủ thể, vừa với tư cách là khách thể của các quá trình kinh tế xã hội. Là chủ thể, con người khai thác, sử dụng các nguồn lực khác hiện có; đồng thời qua đó góp phần tạo ra nguồn lực mới, để duy trì sự tồn tại và phát triển xã hội.
Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác cả về thể lực và trí lực cho mục tiêu phát triển xã hội. Trong quá trình vận động, hai tư cách này tồn tại không tách rời nhau, mà chúng tác động qua lại với nhau. Do vậy, nguồn nhân lực giữ vị trí trung tâm, không chỉ trong hệ thống các nguồn lực của sự phát triển xã hội mà còn của chính sự phát triển xã hội. Ngày nay, với sự ra đời của kinh tế tri thức, khi nói đến nguồn nhân lực, người ta thường chú ý đến chất lượng của nguồn nhân lực.
Mà nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ trong đó người lao động có trí tụê cao, có tay nghề thành thạo, có đạo đức tốt đẹp. Theo quan điểm của Đảng ta thì “nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, nguồn lực con người có trí tuệ là tài nguyên quý giá nhất cho nên, muốn thực hiện thành công chiến lược phát triển kinh tế xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người. Với ý nghĩa như vậy, con người vừa là chủ thể, vừa là z khách thể, đồng thời vừa là động lực và mục tiêu của các quá trình phát triển xã hội. Đảng ta khẳng định, “ lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [22, tr.
Tóm lại “Nguồn nhân lực” là một khái niệm rộng, không thể giải quyết bằng một định nghĩa ngắn gọn mà phải đi sâu xem xét tất cả các mặt, các khía cạnh, vả lại như Ph.Ăngghen nói “Mọi định nghĩa đều có giá trị nhỏ thôi”. Những nội dung đã trình bày và phân tích trên đây cho thấy nguồn nhân lực là một dạng vật chất xã hội đặc biệt, nó chính là con người là yếu tố hàng đầu của lực lượng sản xuất, bao gồm số lượng, chất lượng, năng lực chuyên môn cũng như phẩm chất đạo đức truyền thống văn hoá được kết tinh trong người lao động.