phần mở đầu, tác giả phân tích về sự hình thành và chuyển hóa của đội ngũ trí thức Sài Gòn - Gia Định từ đầu thế kỷ XX đến Cách mạng Tháng Tám 1945; ba phần còn lại tác giả đi sâu phân tích các hoạt động và 17 những đóng góp to lớn của trí thức trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ. Ở phần kết luận, tác giả đã khái quát truyền thống và bài học kinh nghiệm của trí thức Sài Gòn - Gia Định. Có thể nói, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức TPHCM trong giai đoạn hiện nay. Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM (2002), “Sài Gòn - TPHCM: con người và v n hóa trên đường phát tri n” [112].
Đây là công trình xuất bản dựa trên việc chọn lọc các bài báo cáo từ cuộc Hội thảo khoa học “300 năm Sài Gòn - TPHCM” nhân dịp kỷ niệm Sài Gòn - TPHCM ba trăm tuổi. Trong đó, đáng chú ý là bài viết của tác giả Hồ Hữu Nhựt: ““Tr thức Tây học” v i v n hóa Sài Gòn - Gia Đ nh”. Ở bài viết này, tác giả trình bày khá hệ thống vai trò của trí thức Tây học trong việc xây dựng và canh tân văn hóa ở Sài Gòn - Gia Định nói riêng và Nam Bộ nói chung. Trên cơ sở đó, tác giả kết luận một cách khái quát: trí thức Tây học không chỉ đấu tranh xây dựng nền văn hóa, giáo dục mới, tiến bộ, yêu nước mà còn góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc tại Sài Gòn - Gia Định.
Tác giả Hoàng Anh Tuấn (2004) chủ nhiệm đề tài “Thực trạng sử dụng đội ngũ KH&CN trên đ a bàn TPHCM, nguyên nhân và các gi i pháp phát huy hiệu qu ” [117]. Từ các phương pháp như: thống kê, so sánh, phỏng vấn, điều tra xã hội học…các tác giả thực hiện công trình này đã cung cấp cho người đọc bức tranh khá đầy đủ về thực trạng sử dụng đội ngũ KH&CN trên địa bàn TPHCM. Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, công trình đã đi sâu phân tích thực trạng đội ngũ KH&CN trên hai mặt số lượng và chất lượng. Bằng việc tập trung làm rõ hiện trạng sử dụng, trong đó đáng chú ý là dựa trên các số liệu điều tra và ý kiến của 100 nhà khoa học; công trình đã đưa ra những nhận xét, đánh giá cũng như phân tích nguyên nhân sử dụng chưa hiệu quả đội ngũ KH&CN trên địa bàn TPHCM.
Ban Tư tưởng Văn hóa Thành ủy TPHCM - Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM (2005): “Sài Gòn - TPHCM 6 n m tiếp bư c con đường Cách mạng Tháng Tám 19 5 - 2 5” [4]. Công trình xuất bản dựa trên tập hợp các bài tham luận trong cuộc Hội thảo khoa học: “Cách mạng Tháng Tám và 60 năm đấu tranh, xây dựng Sài Gòn - TPHCM (1945 - 2005)”. Trong số đó có bài viết: “Vai trò và bài học của Mặt trận và lực lượng tr thức trong Tổng khởi nghĩa tháng Tám 18 n m 19 5 ở Sài Gòn” của Phạm Bá Nhiễu, nhấn mạnh đến phong trào đấu tranh của lực lượng sinh viên, học sinh ở các đô thị Miền Nam Việt Nam trong cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Bên cạnh đó còn ở bài viết: “Phong trào đấu tranh của gi i tr thức, v n nghệ sĩ thời kỳ chống Mĩ cứu nư c (1954 - 1960)” của Võ Thị Thanh Tuyền, khái quát những hoạt động của trí thức yêu nước Nam Bộ trong kháng chiến chống chế độ Mĩ - Diệm ở các đô thị.
Trên cơ sở phân tích các phong trào đấu tranh của trí thức, văn nghệ sĩ, tác giả đi đến kết luận: “Phong trào đấu tranh chính trị của lực lượng trí thức ở các đô thị Nam Bộ đã góp phần quan trọng cùng nhân dân cả nước làm nên cuộc Đồng Khởi năm 1960” [4, tr. Ở bài viết “Vai trò đội ngũ tr thức trong lĩnh vực nghệ thuật ở TPHCM” [52], tác giả Trần Quốc Hoàn (2008) đã rất thành công khi nêu bật được những đóng góp của đội ngũ trí thức TPHCM trong lĩnh vực nghệ thuật thời kỳ đổi mới với các nội dung như: nghiên cứu và đưa ra những luận cứ khoa học tham gia việc hoạch định các chính sách văn hóa, nghệ thuật; tuyên truyền, bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; tích cực xây dựng con người mới. Với đề tài “Kh n ng thu hút và thực tế sử dụng tr thức Việt kiều về làm việc tại TPHCM trong quá trình phát tri n và hội nhập” [93], tác giả Trần Văn Phương (chủ nhiệm) (2009) đã tập trung làm sáng tỏ khái niệm về trí thức, tiềm năng, đặc điểm của trí thức Việt Nam và người Việt Nam ở nước ngoài. Bên cạnh đó, tác giả đi sâu phân tích thực trạng thu hút và thực tế sử dụng trí thức Việt kiều ở TPHCM trên hai phương diện: khả năng thu hút và hiệu quả của việc tiếp nhận.
Trong bài viết “Tr thức TPHCM trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nư c” [118], tác giả Trương Văn Tuấn (2009) đã chỉ ra được những đóng góp và hạn chế của trí thức TPHCM trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Bên cạnh đó, tác giả còn nêu lên một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển của TPHCM. Tuy nhiên, trong khuôn khổ một bài viết công bố trên tạp chí, tác giả mới chỉ dừng lại ở dạng khái quát, liệt kê là chủ yếu, chưa đi sâu phân tích một cách có hệ thống để thấy được thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với việc thực hiện vai trò đội ngũ trí thức TPHCM. 19 Khi nghiên cứu đề tài “Kh o sát thực trạng làm việc của cán bộ nghiên cứu gi ng dạy các ngành khoa học xã hội và nhân v n tại TPHCM” [48] do Lê Thị Mỹ Hà (chủ nhiệm) (2010), các tác giả đã dựa trên nhiều phương pháp nghiên cứu, đặc biệt là phương pháp thống kê và điều tra xã hội học để làm sáng tỏ thực trạng làm việc của cán bộ nghiên cứu giảng dạy các ngành khoa học xã hội và nhân văn tại TPHCM trên các mặt như: năng lực của cán bộ nghiên cứu khoa học, môi trường làm việc, hiệu quả công việc.
Trên cơ sở đó, công trình đi sâu phân tích một số vấn đề còn tồn tại, hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân của nó. Đối với bài viết “Thực trạng đội ngũ tr thức TPHCM và gi i pháp phát tri n đội ngũ tr thức phục vụ sự nghiệp đổi m i và hội nhập quốc tế” [119], tác giả Trương Văn Tuấn (2012) bên cạnh chứng minh sự tăng nhanh về mặt số lượng trí thức đã chỉ ra những bất cập trong công tác xây dựng đội ngũ trí thức tại TPHCM, cụ thể: sự không tương xứng giữa yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và khả năng đáp ứng của đội ngũ trí thức; sự mất cân đối giữa đội ngũ khoa học lí thuyết và khoa học ứng dụng, giữa khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hành chính sự nghiệp; sự khan hiếm các chuyên gia đầu ngành, chưa đáp ứng kịp thời lực lượng kế cận có đủ năng lực chủ trì các chương trình, dự án trọng điểm; sự không tương thích giữa mục đích phát triển đội ngũ trí thức với cơ chế, chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài. Trên một phương diện khác, tác giả còn có luận án với tên đề tài: “Xây dựng đội ngũ tr thức tại TPHCM trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nư c” [120], bảo vệ năm 2015. Trong luận án này, tác giả tập trung đi sâu phân tích thực trạng công tác xây dựng đội ngũ trí thức TPHCM là chủ yếu.
Mặc dù có đề cập đến vai trò của đội ngũ trí thức TPHCM, tuy nhiên trong khuôn khổ đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả mới chỉ dừng lại ở việc điểm qua các vai trò một cách chung nhất, chưa có điều kiện để luận chứng làm sáng tỏ một cách có hệ thống về thành tựu, hạn chế, chỉ ra những bất cập trong việc phát huy vai trò của đội ngũ này. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TPHCM (2013), “Nhân sĩ tr thức Sài Gòn - Gia Đ nh đồng hành cùng dân tộc” [125]. Nếu như ở tập I của cuốn kỷ yếu các tác giả trình bày một cách khái quát về vị trí địa lí - chính trị của Sài Gòn - Gia 20 Định, ý nghĩa và vai trò của trí thức trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; thì ở tập II các tác giả đã trình bày quá trình hình thành của các tổ chức tham mưu cho cấp ủy qua các thời kỳ với những tên gọi khác nhau. Còn trong bài viết “Tìm hi u về thực trạng đội ngũ tr thức TPHCM trong sự nghiệp CNH, HĐH” [62], tác giả Vũ Đức Khiển (2013) đã chỉ ra những đóng góp, hạn chế và nguyên nhân của đội ngũ trí thức TPHCM trên một số lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực KH&CN trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Tuy nhiên, bài viết này tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên vấn đề dựa trên báo cáo tổng kết hoạt động KH&CN trong giai đoạn 2006 – 2010 của Sở KH&CN TPHCM là chủ yếu. Tác giả chưa đi sâu phân tích vai trò đội ngũ trí thức TPHCM một cách có hệ thống, đặc biệt chưa rút ra được những vấn đề đặt ra, đề xuất các giải pháp để phát huy có hiệu quả hơn nữa vai trò đội ngũ này trong giai đoạn hiện nay. Thành ủy, Hội đồng Nhân dân, Uỷ ban Nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc TPHCM (2015), “TPHCM n m xây dựng, phát tri n và hội nhập” [107]. Công trình được xuất bản dựa trên việc chọn lọc các bài viết trong cuộc Hội thảo khoa học “TPHCM - 40 năm xây dựng, phát triển và hội nhập”, nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước.
Các bài viết trong công trình này đã phân tích, đánh giá, luận giải, bổ sung làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề về thành tựu, hạn chế của TPHCM trong bốn mươi năm, từ năm 1975 đến năm 2015; đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, góp phần phát triển TPHCM nhanh và bền vững. Trong số đó có bài viết của Hồ Sơn Diệp:“Đội ngũ tr thức TPHCM - n m xây dựng và b o vệ Tổ quốc (1975 - 2015)”.