CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Cá nhân và phát triển 1. Các quan điểm về phát triển và hiện đại hóa Phát triển (development) là một thuật ngữ triết học, chỉ quá trình vận động, biến đổi của sự vật từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp, từ cấp thấp lên cấp cao, từ chất cũ sang chất mới. Theo hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác: “Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là quá trình thống nhất giữa phủ định và các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ các sự vật, hiện tượng cũ trong hình thái của sự vật, hiện tượng mới” (Giáo trình những nguyên lý cơ bản chủ nghĩa Mác - Lênin, trang 73).
Hiện đại hóa là sự chuyển biến mang tính lịch sử từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản hiện đại. Nó cũng được sử dụng như một khái niệm công cụ để đo mức độ xa rời xã hội truyền thống. Xuất phát điểm của quá trình hiện đại hóa Hàn Quốc không trùng với xuất phát điểm của lịch sử hiện đại, đó là thời kỳ chế độ phong kiến sụp đổ và chủ nghĩa tư bản ra đời. Nhìn chung, hiện đại hóa phải tuân theo sự tác động của ý thức chủ quan để phát triển theo hướng hiện đại, có thể thấy quá trình hiện đại hóa của Hàn Quốc bắt đầu từ cuối thế kỷ 19.
Hiện đại hóa có thể được giải thích theo hai cách. Một là khái niệm với tư cách là một quá trình lịch sử chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản hiện đại, và hai là khái niệm như một công cụ để đo lường mức độ xã hội hiện đại đã lệch khỏi xã hội truyền thống dựa trên công nghiệp hóa. Những người tích cực tin rằng hiện đại hóa đề cập đến một quá trình thay đổi. Trong đó, kiến thức của con người tiếp tục tăng lên kể từ các cuộc cách mạng khoa học và các hệ thống xã hội truyền thống đã dần phát triển để thích ứng với các chức năng hiện đại và tăng cường kiểm soát xã hội trên nhiều lĩnh vực như: Về tri thức: Sự phát triển của khoa học, đặc biệt là tinh thần hoài nghi và các phương pháp nghiên cứu đã không ngừng nâng cao khả năng hiểu biết và làm chủ tự nhiên của con người, vì vậy, việc tiếp thu và tích lũy tri thức đã góp phần tạo nên những thay đổi mạnh mẽ trong xã hội hiện đại; Về chính trị: Do cuộc cách mạng về công nghệ, chính quyền có thể trực tiếp quản lý đất đai và con người rộng lớn, một bộ 10 máy hành chính khổng lồ và tinh thần pháp quyền trở nên cần thiết.
Tất cả các loại chính trị dân chủ đã trở thành hình mẫu và chủ nghĩa dân tộc v. đã trở thành cách tốt nhất để các chính phủ hiện đại duy trì lòng dân; Về kinh tế: Sự thành lập nền kinh tế thị trường đã trở thành một biểu tượng của sự hiện đại hóa của các quốc gia lạc hậu, một số người cho rằng nó là trung tâm và lực lượng chính của hiện đại hóa, nó có thể tăng thu nhập cá nhân lên hơn nhiều lần, có một cuộc sống sung túc và tăng cường đáng kể sức mạnh quốc gia ; Về xã hội: Cùng với sự chuyển mình về tri thức, chính trị, kinh tế xã hội cũng đóng vai trò to lớn tạo ra những thay đổi như: dân số thành thị tăng nhanh và dân số nông thôn giảm; dòng người di chuyển nhanh, dân số công thương nghiệp thay thế dân số nông nghiệp; tiểu gia đình hạt nhân trở thành trụ cột của xã hội; cơ hội giáo dục ngày càng nhiều, phổ biến; giới tinh hoa chính trị thay thế các lãnh đạo truyền thống làm trụ cột của xã hội; mối quan hệ giữa nam và nữ có xu hướng bình đẳng; sự tiến bộ của y học đã làm tăng tỷ lệ sinh, giảm đáng kể tỷ lệ tử vong và kéo dài tuổi thọ của con người; sự xuất hiện của các phương tiện truyền thông đại chúng đã thay đổi cách mọi người tiếp thu kiến thức và tăng cơ hội tham gia vào các vấn đề công cộng, v. Sự xuất hiện đầu tiên của lý thuyết hiện đại hóa ở Hàn Quốc là khi chế độ quân sự nổi lên vào năm 1961 sau cuộc đảo chính quân sự ngày 16 tháng 5 và chủ trương 'hiện đại hóa tổ quốc'. Trong khi họ thể hiện cả hai mặt kế thừa và bác bỏ hệ tư tưởng của Cách mạng Tháng Tư, thì về mặt kinh tế, họ cố gắng che đậy yêu cầu về một nền kinh tế độc lập và phát triển kinh tế do chính phủ Đảng Dân chủ đặt ra sau Cách mạng Tháng Tư trên danh nghĩa của một kế hoạch phát triển kinh tế dưới ngọn cờ hiện đại hóa đất nước.
Vào những năm 1960, thuật ngữ hiện đại hóa đã được sử dụng một cách nghiêm túc ở Hàn Quốc. Không phải là những từ khai sáng, hiện đại hóa hay hiện đại hóa không tồn tại trước thời điểm đó, mà là vào những năm 1960, chính phủ đã thúc đẩy 'hiện đại hóa tổ quốc' khi nó được sử dụng như một khái niệm thực tế về xã hội và được thảo luận trong giới học thuật. Đẩy mạnh công cuộc hiện đại hóa đất nước, dù phải thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhưng có thể nói kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lấy công nghiệp hóa làm trung tâm. Do đó, người ta dễ nghĩ rằng khái niệm hiện đại hóa được sử dụng ở Hàn Quốc chủ yếu có nghĩa 11 là công nghiệp hóa và phát triển kinh tế.
Như vậy, hiện đại hóa có thể được hiểu theo hai cách: một là, quá trình lịch sử chuyển đổi từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản hiện đại; hai là, công cụ đo lường sự chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại dựa trên cơ sở công nghiệp hóa. Năm 1963, Park Chung-hee tập trung xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn và các chính sách xuất khẩu. Đây là đòn bẩy giúp nền kinh tế cũng như nền công nghiệp Hàn Quốc trở nên thịnh vượng hơn bao giờ hết. Điểm khác biệt ông Park Chung-hee đã tái lập quan hệ bình thường với Nhật Bản, đất nước đã gây nhiều đau thương cho nhân dân Hàn Quốc.
Việc làm này tuy đi ngược lại với mong muốn của đại đa số người dân nhưng đã đem lại nhiều lợi ích khi đã giải quyết được vấn đề trước mắt là xung đột giữa hai quốc gia và mở đường cho việc phát triển mậu dịch. Liên kết các dịch vụ với Nhật Bản sau đó đã trở thành khách hàng lớn thứ nhì của Hàn Quốc, chỉ sau nước Mỹ. Sự thành công của Hàn Quốc không chỉ đến từ những chính sách của nhà nước mà nó còn xuất phát từ một tinh thần dân tộc lớn lao, từ một niềm tin mạnh mẽ vào tương lai tươi sáng và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn dân. Đẩy mạnh các chính sách văn hóa dân tộc, áp dụng công nghệ thông tin, du lịch, đặc biệt là lập các khu kinh tế thông qua các công ty tập đoàn lớn được thành lập, mở cửa xuất khẩu lao động, tư vấn du học với các nước trên thế giới đã giúp Hàn Quốc dễ dàng tiếp cận với nhiều nước trong khu vực và các nước trên thế giới.
Như vậy, sau gần 20 năm lãnh đạo đất nước, Park Chung-hee đã đưa Hàn Quốc thoát khỏi đói nghèo. Đây có thể coi là bước đầu tiên tiến tới sự phát triển của quốc gia này. Vai trò cá nhân trong phát triển Nói đến vai trò cá nhân trong phát triển xã hội tức là nói đến vai trò của con người mà cụ thể là con người chính trị. Trong lịch sử tư tưởng Phương Đông (Trung Quốc), “con người chính trị là những bậc đế vương, những người quân tử” (Tập bài giảng chính trị học, 2004, tr.
Có thể chia con người chính trị ở ba cấp độ đó là người lãnh đạo đứng đầu nhà nước, các quan chức thuộc tầng lớp ưu tú và đa số nhân dân. Vai trò cá nhân ở Hàn Quốc được thể hiện trong mỗi gia đình, xã hội và chính quyền Hàn Quốc. Ở phương Đông nói chung và Hàn Quốc nói riêng thì truyền thống gia đình luôn được coi trọng cao nhất. Riêng trong nền văn 12 hoá Hàn Quốc các hộ gia đình không chỉ được coi trọng, mà hơn thế nữa, nó trở thành một nhân tố chi phối tổ chức xã hội, các thành tố của nền văn hóa chính trị Hàn Quốc thể hiện thông qua các đạo đức chi phối con người Hàn Quốc.
Thể hiện qua các luật tục, các nguyên tắc chính trị xã hội. Thể hiện rõ nét qua các phương tiện truyền thông và công cụ quản lý nhà nước. Thông qua ý thức cá nhân và tập thể trong cộng đồng dân cư và các phương pháp quản lý hoạt động chính trị xã hội. Với vai trò cá nhân được hình thành trong cách sống của mỗi gia đình, trong tập thể chính trị lớn mạnh đã hình thành nên một xã hội Hàn Quốc phát triển nhanh và bền vững.
Tuy nhiên, tư tưởng đặt gia đình và cộng đồng trên cá nhân bén rễ lâu đời ở Hàn Quốc, khiến một cá nhân không được nhìn nhận dựa trên đặc điểm nội tại của riêng mình mà dựa trên xuất thân của mình, tức là sinh ra trong gia đình nào, thuộc cộng đồng nào. Xã hội trong cộng đồng là xã hội xem trọng mối quan hệ hài hòa giữa người với người, sự hòa thuận trong gia đình, sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng, sự quan tâm - yêu thương và cống hiến cho cộng đồng của mình. Hầu như rất khó để tìm được trường hợp nào công nhận cá nhân như một con người độc lập có nhân cách, năng lực riêng. Trong quan niệm của Nho giáo truyền thống, vị trí của một người trong gia đình - tổ chức cơ bản nhất của xã hội chỉ là một phần rất nhỏ trong mạng lưới mối quan hệ dày đặc bao quanh người đó.
Trong tư tưởng Nho giáo, xã hội được xem là tập hợp của các đơn vị cơ bản là mối quan hệ giữa người với người như mối quan hệ vua tôi, cha con, vợ chồng, mối quan hệ đồng trang lứa hay già trẻ lớn bé. Vì vậy mà các thành viên trong mỗi mối quan hệ ấy phải thực hiện vai trò và nghĩa vụ tương ứng của mình nhằm đảm bảo trật tự và sự hòa thuận trong các mối quan hệ, từ đó mới có được một xã hội lý tưởng.