Chương 1 Luan van 4 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC 1. QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ THỰC TIỄN VÀ NHẬN 1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về phạm trù thực tiễn Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức mácxít mà thực tiễn còn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của triết học Mác – Lênin. Trong lịch sử triết học các nhà triết học trước Mác không phải mọi trào lưu đều đưa ra quan điểm đúng đắn về phạm trù thực tiễn.
Chẳng hạn chủ nghĩa duy tâm lại hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần sáng tạo ra thế giới của con người người, chứ không xem nó là hoạt động hiện thực, hoạt động lịch sử xã hội, là hoạt động vật chất cảm tính của con người, mặc dù chủ nghĩa duy tâm đã phần nào nhận thấy được mặt năng động sáng tạo trong hoạt động của con người. Trong khi đó chủ nghĩa duy vật trước Mác đã có công lao to lớn trong việc phát triển thế giới quan duy vật, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và thuyết không thể biết. Chủ nghĩa duy vật trước Mác đẫ hiểu thực tiễn là một hành động vật chất của con người, nhưng lại xem hoạt động đó là hoạt động con buôn, đê tiện, bẩn thỉu. Mặc dù có công lao to lớn nhưng lý luận của họ còn nhiều hạn chế, thiếu sót, trong đó hạn chế lớn nhất là không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, do đó chủ nghĩa duy vật của họ mang tính chất trực quan.
Mác đã chỉ rõ ra khuyết điểm chủ yếu, từ trước đến nay của mọi chủ nghĩa duy vật kể cả chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc là không thấy được vai trò của thực tiễn. Khắc phục những hạn chế và sai làm đông thời kế thừa và phát triển sáng tạo những yếu tốt hợp lý trong những quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trước đó, Mác và Ăngghen đa đưa ra một quan niệm đúng đắn, khoa học Luan van 5 về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, hai ông đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận về thực tiễn nói riêng. Lênin nhận xét: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.
Chủ nghĩa Mác – Lênin đưa ra quan điểm về thực tiễn: “Thực tiễn, là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội”. Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới. Con người không thể thỏa mãn với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn.
Con người phải tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất để nuôi sống mình. Để lao động và lao động có hiệu quả, con người tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên. Không có hoạt động đó, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới.
Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ gữa sự thật với những điều cần thiết đối với con người. Tuy trình độ và các hình thức hoạt động thực tiễn thay đổi qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội, nhưng thực tiễn luôn luôn là dạng hoạt động cơ bản và phổ biến của xã hội loài người. Hoạt động đó chỉ có thể được tiến hành trong các quan hệ xã hội. Thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của nó; trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục Luan van 6 giới tự nhiên và làm chủ xã hội của con người.
Do đó, về mặt nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội. Thực tiễn bao gồm nhiều yếu tố và nhiều dạng hoạt động, bất kỳ quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng gồm những yếu tố như nhu cầu, lợi ích, mục đích, phương tiện và kết quả. Các yếu tố đó có quan hệ với nhau, quy định lẫn nhau mà nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được. Thực tiễn biểu hiện rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có ba hình thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học.
Hoạt động sản xuất vật chất là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thủy và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật. Là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên của thực tiễn, đây là hoạt động mà trong đó con người sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những của cải và các điều kiện thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của mình và xã hội. Hoạt động chính trị xã hội là hoạt động của các tổ chức cộng đồng người khác nhau trong xã hội nhằm cải biến những mối quan hệ xã hội để thúc đẩy xã hội phát triển. Hoạt động thực nghiệm khoa học là một hình thức đặc biệt của thực tiễn, đây là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống, giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu.
Dạng hoạt động thực tiễn này ngày nay càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng và khoa học công nghệ phát triển hiện đại. Luan van 7 Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau song giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác. Bởi vì, nó là hoạt động nguyên thủy và tồn tại một cách khách quan, thường xuyên nhất trong đời sống của con người và nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu có tính quyết định đối với sự sinh tồn và phát triển của con người.
Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức hoạt động khác. Các hình thức hoạt động khác suy cho cùng cũng xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất và phục vụ cho hoạt động sản xuất vật chất của con người. Nói vậy không có nghĩa là các hình thức hoạt động chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học là hoàn toàn thụ động, lệ thuộc một chiều vào hoạt động sản xuất vật chất. Ngược lại, chúng có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động sản xuất phát triển.
Chẳng hạn, nếu hoạt động chính trị xã hội mang tính chất tiến bộ, cách mạng và nếu hoạt động thực nghiệm khoa học mà đúng đắn sẽ tạo đà cho hoạt động sản xuất phát triển. Còn nếu hoạt động chính trị xã hội mà lạc hậu và nếu hoạt động thực nghiệm khoa học mà sai lầm, không khoa học sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt động sản xuất vật chất. Chính sự tác động qua lại lẫn nhau của các hình thức hoạt động cơ bản đó làm cho thực tiễn vận động, phát triển không ngừng và ngày càng có vai trò quan trọng đối với nhận thức. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về phạm trù nhận thức Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng chỉ ra rằng: Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan.
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nhận thức xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản: thứ nhất, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách Luan van 8 quan, độc lập với ý thức con người; thứ hai, thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế gới khách quan, coi nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể, thừa nhận không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được; thứ ba, khẳng định sự phản ánh đó là quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo, quá trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ chưa s âu sắc, chưa toàn diện đến sâu sắc và toàn diện hơn; thứ tư, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức của con người là một quá trình. Đó là quá trình đi từ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận, từ trình độ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học… Nhận thức kinh nghiệm, là trình độ nhận thức đi từ sự quan sát trực tiếp các sụ vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội hoặc qua các thí nghiệm khoa học. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm có hai loại, tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học. Hai loại tri thức này có thể bổ sung cho nhau, làm phong phú lẫn nhau.