Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nông thôn Nông thôn là khu vực không gian lãnh thổ mà ở đó cộng đồng cư dân có cách sống và lối sống riêng, lấy sản xuất nông nghiệp làm hoạt động kinh tế chủ yếu và sống dựa vào nghề nông (nông, lâm, ngư nghiệp); có mật độ dân cư thấp và quần cư theo hình thức làng xã; có cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hộ kém phát triển, trình độ về dân trí, trình độ khoa học kỹ thuật cũng như tư duy sản xuất hàng hóa và kinh tế thị trường là thấp kém hơn so với đô thị; có những mối quan hệ bền chặt giữa các cư dân dựa trên bản sắc văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền về tín ngưỡng, tôn giáo (Nguyễn Đức Hà, 2015). Nông dân Là những người lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp, sống chủ yếu bằng ruộng vườn sau đó đến ngành nghề khác và tư liệu chính là đất đai.
Nông dân với Mác và Ăngghen là “khối quần chúng đông đảo mà tất cả thành viên đều sống trong một hoàn cảnh như nhau nhưng lại không nằm trong mối quan hệ nhiều mặt đối với nhau. Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên hệ với nhau mà lại làm cho họ cô lập với nhau”. Các ông còn chỉ rõ, nông dân ở mọi quốc gia đều là nhân tố cơ bản của dân cư, của nền sản xuất và của lực lượng chính trị (C. Theo Lênin nông dân một mặt là người tư hữu, nhưng mặt khác lại là người lao động.
Nông dân là lực lượng xã hội được hình thành trong quá trình giải thể chế độ công xã nguyên thủy và tồn tại đến nay. Họ là những người sinh sống và lao động ở nông thôn gắn với tư liệu sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sản phẩm nông nghiệp (Phạm Quang Duy, 2016). Hồ Chí Minh khẳng định nông dân là đại đa số dân tộc do đó vấn đề nông dân là nền tảng của vấn đề dân tộc. Đối với người nông dân Việt Nam là những người bị bóc lột nhất và cùng khổ nhất.
Và dân chúng công nông là gốc của cách mạng (Nguyễn Chiến, 2014). e 6 Như vậy, nông dân là một lực lượng được hình thành tất yếu trong tiến trình lịch sử, cho đến nay nông dân vẫn là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, nông dân sống ở nông thôn, sản xuất nông nghiệp, làm ra các sản phẩm nông nghiệp. Nông dân có vai trò quan trọng trong chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của các quốc gia. Nông thôn mới Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị.
Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội.
Xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khan trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá X đã ban hành Nghị Quyết 26-NQ/TW, ngày 05/08/2008 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (Nghị Quyết 26-NQ/TW Khóa X 2008). Trong Nghị quyết đưa ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”. Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị.
Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh. Sự cần thiết của chương trình xây dựng nông thôn mới Trong quá trình phát triển, một số nước trước đây chỉ chú ý phát triển các đô thị các khu công nghiệp hiện đại mà ít chú ý đến phát triển nông thôn. Đó là một số nước như: Braxin, Mêhicô, Ân Độ, Angiêri, Ăngôla,.
Tình hình đó đã làm cho khoảng cách về kinh tế và xã hội, giữa đô thị và nông thôn ngày càng lớn, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của đất nước, làm tăng thêm sự mất cân đối giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa sản xuất và tiêu dùng, tạo nên mâu thuẫn trong nội bộ của cơ cấu kinh tế. Cùng lúc đó một số nước và vùng lãnh thổ khác ở châu Á tốc độ tăng trưởng khá nhanh như: Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaixia đã quan tâm phát triển nông thôn ngay từ đầu thời kì công nghiệp hoá, coi nông nghiệp nông thôn là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển nông thôn không phải chỉ là vì lợi ích riêng của nông thôn mà vì lợi ích chung của đất nước. Do đặc thù của Việt Nam nên vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.
Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ: Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội (Phạm Thắng, 2008). Ngày nay việc phát triển nông thôn không còn là việc riêng của các nước đang phát triển mà còn sự quan tâm của cộng đồng thế giới. Việt Nam là một nước đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, nông thôn lại càng có vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển đất nước: - Nông thôn là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm cho nhu cầu cơ bản của nhân dân, cung cấp nông sản nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu. - Nông thôn là nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào cho xã hội, chiếm trên 70,3% lao động xã hội.
Trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, nông nghiệp chuyển dần sang làm công nghiệp, dịch vụ, chuyển dần lao động nông thôn vào các khu đô thị và các khu chế xuất công nghiệp. - Nông thôn chiếm 69,9% dân số cả nước. Đó là thị trường rộng lớn tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và dịch vụ, nông thôn phát triển cho phép nâng cao đời sống và thu nhập của dân cư, tạo ra điều kiện mở rộng thị trường để phát triển sản xuất trong cả nước. e 8 - Ở nông thôn Việt Nam có trên 50 dân tộc khác nhau sinh sống bao gồm nhiều thành phần, nhiều tầng lớp có các tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau, là nền tảng quan trọng để đảm bảo ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, để tăng cường sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc.
- Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn của đất nước, có điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội khác nhau. Đó là tiềm lực to lớn về tài nguyên đất đai, khoáng sản để phát triển bền vững đất nước. Mặt khác, do kết cấu hạ tầng nông thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi) còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ; nhiều hạng mục công trình đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hóa thấp, giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư, hệ thống thủy lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự được an toàn; cơ sở về giáo dục, y tế, văn hóa còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp. Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển.
Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hóa chưa đồng bộ. Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém.
Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới ở địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục,.); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch. e 9 Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần ba yếu tố chính: Đất đai, vốn và lao động kỹ thuật.
Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tống thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa. Tuy nhiên, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp.