Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Hội LHPN trong phát triển kinh tế hộ gia đình Phần 3: Phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu Phần 5: Kết luận và kiến nghị 4 PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ GIA ĐÌNH 2. Một số lý luận về Hội Liên hiệp phụ nữ 2.
Khái niệm về Hội và Hội Liên hiệp phụ nữ a. Khái niệm về Hội Khái niệm “Hội” (association) trong tiếng Anh cũng có nội hàm rất rộng. Theo Đại diện đặc biệt của Liên Hợp Quốc (LHQ) về những người bảo vệ nhân quyền thì: Khái niệm “Hội” nhắc đến bất kỳ nhóm cá nhân hoặc bất kỳ thực thể pháp lý nào liên kết với nhau để cùng nhau hành động, bày tỏ, thúc đẩy, theo đuổi hoặc bảo vệ một lĩnh vực quan tâm chung (a field of common interests). Trong báo cáo của mình, Báo cáo viên về tự do hội họp và lập hội của Liên Hợp quốc Maina Kiai đã nhắc lại và sử dụng định nghĩa này (Khánh Tùng, 2014).
Nhận thức về hội ở Việt Nam hiện nay còn là đề tài gây ra nhiều tranh luận, chưa thực sự thống nhất. Trong một thời gian dài, cùng với khái niệm xã hội dân sự, hội được coi là vấn đề khá nhạy cảm, nên chưa được nghiên cứu, tìm hiểu đầy đủ. Điều này dẫn đến những cách nhìn phiến diện, thiếu tích cực về vị trí, vai trò của hội trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Chính vì vậy, dưới góc độ học thuật, việc nghiên cứu về hội, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế, nhất là triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 là điều cần thiết.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về Hội trong nghiên cứu này, Hội được hiểu theo cách thông thường Hội là một tổ chức liên kết tự nguyện của công dân, với sự tham gia chính thức của ít nhất ba cá nhân hoặc tổ chức hoạt động thường xuyên, tổ chức có cùng ngành nghề, sở thích và có chung mục đích. Hoạt động thường xuyên, không vụ lợi. Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, có tên và biểu tượng riêng (Trương Hồng Quang, 2014). Khái niệm về Hội LHPN Điều lệ Hội LHPN Việt Nam (thông qua tại Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ XI) đã khẳng định: Hội LHPN Việt Nam là một tổ chức chính trị, xã hội trong hệ thống chính trị, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của 5 các tầng lớp phụ nữ Việt Nam; phấn đấu vì sự phát triển của phụ nữ và bình đẳng giới.
Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thành viên của Liên hội các nước Đông Nam Á. Từ những tổ chức tiền thân cho đến ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Hội đoàn kết, vận động, tập hợp rộng rãi các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh (Điều lệ Hội LHPN Việt Nam, 2012). Hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tổ chức thành công 11 kỳ Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc.
Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XI (nhiệm kỳ 2012-2017) được tổ chức tại Cung Văn hoá Lao động Việt Xô, Hà Nội từ ngày 11-14/3/2012. Về khái niệm “Tổ chức chính trị - xã hội” qua nghiên cứu các văn bản của Đảng, Nhà nước ta hiện nay cho thấy các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam được hiểu theo nghĩa là tập hợp những người có chung mục tiêu về chính trị, có cùng đặc điểm xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng xây dựng Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh (Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, 2005). Cho đến nay có 5 tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam. Các tổ chức chính trị - xã hội này là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, là nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
Cương lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ (năm 1991) chính là: sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là sự đúc kết, là sự khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo. Cũng trong Cương lĩnh năm 1991, vị trí vai trò của các đoàn thể nhân dân một lần nữa được khẳng định: “Các đoàn thể nhân dân tùy theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã xác định, vừa vận động đoàn viên, hội viên giúp nhau chăm lo, bảo vệ các lợi ích thiết thực; vừa giáo dục nâng cao trình độ mọi mặt cho đoàn viên, hội viên; vừa tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội”. Vị trí, vai trò đó của các tổ chức chính trị - xã hội đã thể hiện rõ trong 6 thực tiễn cách mạng nước ta, đồng thời qua đó các tổ chức đó đã có sự trưởng thành không ngừng.
Đây là cơ sở để các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt vai trò của mình, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH trên đất nước ta, cũng như nền dân chủ XHCN nói riêng. Chức năng, nhiệm vụ của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam a. Chức năng của Hội LHPN Việt Nam Điều lệ Hội LHPN Việt Nam do Đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XI năm 2012 thông qua, đã xác định chức năng của các cấp Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là: “Đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp phụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước. Đoàn kết, vận động phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới”(Điều lệ Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, 2012).
Hội LHPN với chức năng của Hội là đại diện cho tầng lớp phụ nữ, tổ chức Hội LHPN Việt Nam thay mặt cho các tầng lớp phụ nữ Việt Nam để thực hiện một hoặc một số hoạt động theo quy định của pháp luật, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Hội LHPN Việt Nam với mục đích hoạt động không vì lợi nhuận đó là một tổ chức chính trị và xã hội, là đại diện cho tầng lớp phụ nữ, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ. Hội chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho hội viên. Với mục tiêu hỗ trợ phụ nữ trong phát triển kinh tế gia đình.
Như vậy, là đơn vị trực tiếp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế - văn hóa cho phụ nữ. Hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn cho phụ nữ. Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ, định hướng, dạy nghề, chuyển giao khoa học công nghệ giúp phụ nữ phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường. Từ đó, góp phần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, đảm bảo an sinh 7 xã hội, ổn định chính trị xã hội, khai thác và sử dụng tối đa nguồn lực sẵn có (về nhân lực, vốn, cơ sở hạ tầng…).
Nhiệm vụ của Hội LHPN Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạo đức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; Vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao năng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; Chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em. Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh; Đoàn kết hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình (Điều lệ Hội LHPN Việt Nam, 2012). Lý luận về phát triển kinh tế hộ gia đình 2.
Hộ gia đình Trong từ điển ngôn ngữ Mỹ: “Hộ là tất cả những người cùng sống chung trong một mái nhà. Nhóm người đó bao gồm những người cùng chung huyết tộc và những người làm ăn chung (Oxford press,1987)”. Theo Điều 3, điểm 29 Luật Đất đai quy định “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất” (Luật đất đai, 2013). Còn trong Bộ Luật dân sự, khái niệm Hộ gia đình không được định nghĩa một cách chính thức, mà chỉ khẳng định Hộ gia đình có thể là chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này” (Luật Dân sự, 2005).
Theo Luật hôn nhân và gia đình "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm 8 phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định.