Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Chương 2: Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa và vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của công tác xã hội trong công tác dồn điền đổi thửa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Footer Page 18 of 107. 10 Header Page 19 of 107.
NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Các khái niệm công cụ 1.1 Vai trò “Vai trò là tập hợp hành vi hoặc các mô hình hành vi gắn với vị thế cá nhân để khẳng định bản sắc cá nhân và thuộc phạm trù của một quá trình tương tác giữa cá nhân và cấu trúc xã hội” [28]. Trong các khoa học xã hội nói chung và xã hội học nói riêng, có bốn hướng tiếp cận lí thuyết về vai trò. Theo hướng tiếp cận tâm lí học xã hội của MAISONNEUVE Jean (1973), khi bàn đến vai trò thì cần bàn đến ba khía cạnh hay ba cấp độ: (1) cấp độ thiết chế; (2) cấp độ cá nhân và (3) cấp độ tương tác giữa thiết chế và cá nhân. Ở cấp độ thiết chế, “vai trò là toàn thể các hành vi mang tính chuẩn mực của một tác nhân khi tác nhân ấy có một địa vị xã hội.
Những chuẩn mực hành vi ấy phù hợp với các biến số tuổi, giới tính, nghề nghiệp, vị thế gia đình và vị thế chính trị”. Dựa vào định nghĩa vai trò ở cấp độ thiết chế như vậy, tác giả này phân biệt vai trò mang tính thiết chế và vai trò mang tính chức năng. Ở nghĩa vai trò mang tính thiết chế, tác giả nhấn mạnh yếu tố chuẩn mực hành vi trong thiết chế của các chủ thể, trong khi đó, ở nghĩa vai trò mang tính chức năng, tác giả nhấn mạnh đến hoạt động của các tác nhân ở trong các nhóm xã hội thuộc thiết chế. Trên cơ sở này, Bales đã mô tả mô hình hành vi của các tác nhân trong các nhóm nhỏ là thường định hướng hoạt động của mình theo nhiệm vụ chung của nhóm.
Trong trường hợp ấy, vai trò mang tính chức năng thường được phân tích ở cấp độ liên cá nhân, ở cấp độ xúc cảm tích cực hay tiêu cực. Bên cạnh đó, một vài tác giả khác như BENNET và SHEATS tập trung phân tích định hướng hành vi của các tác nhân đến nhiệm vụ của nhóm Footer Page 19 of 107. 11 Header Page 20 of 107. mà họ là thành viên để duy trì sự cố kết nhóm và mức độ đáp ứng nhu cầu cho các thành viên nhóm Ở cấp độ cá nhân, nhờ có vai trò mà cá nhân có thể diễn đạt được nhân cách và bản sắc của bản thân.
Ở cấp độ tương tác giữa cấu trúc xã hội và cá nhân, MAISONNEUVE nêu lên khái niệm vai trò kì vọng và sự tiến triển bên trong của vai trò. Trên cơ sở ấy, “vai trò kì vọng là quá trình mường tượng trước các mô hình hành vi của tác nhân khác theo các vị thế xã hội và tình huống xã hội. Căn cứ theo quá trình phát triển các tương tác giữa cá nhân và cấu trúc xã hội, có thể có sự biến đổi mô hình hành vi hướng đến người khác. Theo hướng tiếp cận chức năng trong xã hội học của FILLOUX, vai trò được hiểu theo cách của MERTON như sau: “Cấu trúc xã hội là sự sắp xếp các vai trò và vị thế, tức là tổng thể vai trò và vị thế gắn kết với nhau và những chuỗi hành vi được sinh ra từ sự gắn kết ấy”.
Cũng trên tinh thần ấy, khi bàn đến nền tảng văn hóa của con người, LINTON đã đưa ra quan niệm như sau về vai trò: “Vai trò là khái niệm để chỉ thái độ, giá trị và hành vi mà xã hội gán cho một người có một địa vị”. Cũng cần phải lưu ý rằng, ở một địa vị xã hội tương đương với không ch một vai trò, mà là nhiều chuỗi vai trò phối hợp. Như vậy, vai trò thể hiện tính chức năng và luôn luôn động. Theo tiếp cận tích hợp tâm lí học xã hội và xã hội học của CHAPUIS và THOMAS (1995), những tác giả rất bị ảnh hưởng của JAMES, BALDWIN, LINTON, MEAD, MORENO, GOFFMAN, vai trò gắn với ba nhóm ch báo gồm nhân cách, chuẩn mực và giá trị.
“Vai trò là tổng thể các mô hình hành vi văn hóa tích hợp ở một địa vị xã hội. Đây là quá trình nhập tâm hay nội hóa các giá trị chung của xã hội và của các nhóm thuộc tính cho phép cá nhân phối hợp các hoạt động khác nhau”. Các tác giả này phân biệt ba cấp độ vai trò: Footer Page 20 of 107. 12 Header Page 21 of 107.
Vai trò được quy định hoặc vai trò gán cho tương ứng với vai trò kì vọng; Vai trò chủ quan hay quan niệm của chủ thể về vai trò và đánh giá của chủ thể về hoạt động thực hiện vai trò của mình theo kì vọng; Vai trò thực tiễn hay vai trò khách quan. Do cá nhân có nhiều vai trò nên khả năng xuất hiện xung đột các vai trò là rất cao bởi vì vào cùng một thời gian và không gian, cá nhân khó có thể hài hòa được mọi vai trò của mình. Hơn nữa, đặt trong chiều cạnh động học, vai trò luôn luôn tiến triển nên nó bị ảnh hưởng bởi các tâm tính văn hóa khác. CHAPUIS và THOMAS đã dẫn lại định nghĩa vai trò của ROCHEBLAVE- SPENLÉ như sau: “Vai trò là một mô hình hành vi có tổ chức tương ứng với vị thế của cá nhân trong một tập hợp tương tác”.
Như vậy, định nghĩa này biểu hiện một sự thỏa hiệp giữa một bên là vai trò “gán cho , vai trò quy định đối với một địa vị xã hội và bên kia là cá nhân tìm cách hành động phù hợp với mô hình hành vi chuẩn mực ấy. ROCHBLAVE-SPENTÉ không ch nhấn mạnh đến sự tiến triển của các vai trò do có những biến đổi kinh tế - xã hội, mà tác giả này còn phân tích những biến đổi chuẩn mực và giá trị xã hội do có những thay đổi vai trò. Ở một khía cạnh khác, khi đề cập đến mối quan hệ giữa địa vị và vai trò, CHAPUIS và THOMAS cho rằng, địa vị là yếu tố cốt lõi của quá trình tổ chức các quan hệ xã hội và vai trò là yếu tố cốt lõi của quá trình tiến triển tâm tính và giá trị văn hóa. Thực vậy, các vai trò bị ảnh hưởng bởi hệ quả của khủng hoảng các nền văn minh.
Hướng tiếp cận lí thuyết thứ tư mang tính chất tương tác theo quan niệm của MONTMOLLIN. Vai trò có ba ngữ nghĩa rất rõ: (1) “Vai trò là tổng thể những đòi hỏi và quy định (chuẩn mực, kì vọng, trách nhiệm, sự gán cho…) xuất phát từ cấu trúc xã hội và được tích hợp ở một vị thế nào đó trong cấu trúc xã hội”; (2) “Vai trò là toàn thể hành vi mà cá nhân thực hiện Footer Page 21 of 107. 13 Header Page 22 of 107. với tư cách là cá nhân ấy có một vị thế trong một cấu trúc xã hội”; (3) “Vai trò là định hướng và quan niệm về hành động mà một cá nhân có được khi cá nhân ấy là thành viên của một tổ chức, tức là hệ thống thái độ và giá trị của cá nhân ấy”.
Theo GOFFMAN, vai trò tương ứng với một mô hình hành động được quy định trước: “Vai trò là quá trình cập nhật quyền và nghĩa vụ gắn với một địa vị xã hội”. Từ các hướng tiếp cận ấy sẽ là thông tin quan trọng để tôi lựa chọn những vai trò quan trọng và phù hợp của công tác xã hội liên quan đến công tác dồn điền đổi thửa.2 Công tác xã hội và vai trò của công tác xã hội Công tác xã hội: Trên thế giới, Công tác xã hội đã được khẳng định là một ngành khoa học độc lập có đối tượng nghiên cứu riêng, có hệ thống lý luận, phương pháp nghiên cứu riêng. Tuy nhiên bấy lâu nay ở nước ta Công tác xã hội bị đánh đồng với hoạt động từ thiện. Và khi nghiên cứu về CTXH đã có rất nhiều những quan niệm khác về CTXH.
Năm 1970, hiệp hội Quốc gia các nhân viên xã hội – NASW( Hoa Kỳ) định nghĩa : Công tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, nhóm, cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy [13, tr. Năm 2000, tại Đại hội Montreal, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế (IFSW) đã phát triển CTXH theo hướng tiếp cận mới: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ con người và sự tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý luận hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề CTXH [13, tr.
Footer Page 22 of 107. 14 Header Page 23 of 107. Năm 2004, Liên đoàn CTXH chuyên nghiệp quốc tế họp ở Canada đã thảo luận, bổ sung và đưa ra định nghĩa: CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội ( vấn đề nảy sinh trong quan hệ xã hội ) vào quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng. CTXH đã giúp cho con người phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tố đẹp hơn cho mọi người dân [13, tr.
Như vậy, qua lịch sử hình thành và rất nhiều quan niệm khác nhau thì có thể đưa ra một định nghĩa khái quát chung về CTXH như sau: CTXH là một hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội ( Cá nhân, nhóm, cộng đồng) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên hòa nhập cuộc sống theo hướng tích cực bền vững [13, tr. Những năm gần đây, CTXH đã được tái khôi phục, phát triển ở Việt Nam.