phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo gồm có 3 chƣơng, 13 tiết, 30 tiểu tiết. Chƣơng 1: Vai trò chính trị của báo chí – Một số vấn đề chung Chƣơng 2: Tình hình thực hiện nhiệm vụ giám sát quyền lực chính trị của báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới Chƣơng 3: Một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cƣờng vai trò giám sát quyền lực chính trị của báo chí 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I VAI TRÒ CHÍNH TRỊ CỦA BÁO CHÍ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. BÁO CHÍ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1. Một số khái niệm cơ bản + Chính trị Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, chính trị về thực chất bắt nguồn từ quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc.
Trong đó trƣớc hết và cơ bản nhất là lợi ích kinh tế. Cái chi phối trực tiếp chính trị chính là quan hệ giai cấp và vấn đề trung tâm then chốt nhất trong chính trị là vấn đề quyền lực Nhà nƣớc. Quyền lực nhà nƣớc là công cụ cơ bản để thực hiện quan hệ với các giai cấp, các nhóm xã hội theo hƣớng có lợi cho lực lƣợng nắm quyền. Trong cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng khốc liệt, những ngƣời có sức mạnh kinh tế - những ngƣời thuộc giai cấp thống trị dần dần liên kết, gắn bó lại với nhau để bảo vệ địa vị của họ, chống lại những ngƣời bị thống trị trong xã hội.
Do nhu cầu nội tại của nó (mà trƣớc hết và cơ bản là bảo vệ, tăng cƣờng lợi ích kinh tế), giai cấp thống trị buộc phải tìm cách duy trì sự ổn định của xã hội, ép buộc giai cấp đối kháng và toàn xã hội phải chấp nhận sống trong vòng trật tự có lợi cho giai cấp thống trị, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Để thực hiện đƣợc mục tiêu này, giai cấp thống trị đã lập ra bộ máy bạo lực và sử dụng nó cho việc tổ chức lại xã hội trong một khuôn khổ, theo một trật tự có lợi cho bản thân họ. Xã hội đƣợc tổ chức lại theo cách thức tổ chức nhƣ thế đƣợc gọi là Nhà nƣớc. Vì vậy, nói đến chính trị không thể không nói đến nhà nƣớc.
Theo Lênin, chính trị là sự tham gia vào những công việc nhà nƣớc, là việc vạch hƣớng đi cho nhà nƣớc, là việc xác định những hình thức, nhiệm vụ, nội dung cho hoạt động của nhà nƣớc. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ sự phân tích trên có thể định nghĩa: “Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước” [58, 8]. Tuy nhiên, nói đến chính trị nếu chỉ nói đến giai cấp và nhà nƣớc là chƣa đủ, mặc dù vấn đề giai cấp và vấn đề nhà nƣớc là hai vấn đề cơ bản nhất của chính trị, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà hoà bình, độc lập, dân tộc, dân chủ, tự do, bình đẳng đã trở thành mệnh lệnh sống của nhân loại. Gần đây, sự phát triển của khoa học chính trị phƣơng Tây đã bổ sung và làm cho khái niệm về chính trị trở nên phong phú hơn.
Theo đó, chính trị đƣợc hiểu là “tất cả các hoạt động của con người nhằm xác lập những chế định bắt buộc chung đối với nhóm hoặc giữa các nhóm người” [56, 58]. Chúng tôi xem đây là một cách hiểu có giá trị tham khảo đối với nghiên cứu này. + Hệ thống chính trị, hiểu theo cách chung nhất theo quan niệm chính trị học phƣơng Tây hiện đại là “một tiểu hệ thống của xã hội đảm nhiệm chức năng tạo ra các chế định bắt buộc cho xã hội đó. Về nguyên tắc hệ thống chính trị bao gồm hệ thống chính quyền, nghị viện, các Đảng phái, các nhóm lợi ích, truyền thông đại chúng và các thiết chế quản lý hành chính” [56, 64].
Hiểu theo cách cụ thể hơn phù hợp đặc điểm tình hình nƣớc ta thì hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các Đảng chính trị các tổ chức và các phong trào xã hội…) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị [58, 262]. Hệ thống chính trị của các quốc gia trên thế giới rất khác nhau, phần lớn các quốc gia tồn tại nhiều Đảng chính trị, nhƣng có những quốc gia chỉ có một Đảng chính trị duy nhất, ví dụ nhƣ ở Việt Nam. Hệ thống chính trị ở nƣớc ta, về mặt thể chế bao gồm: Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (gồm Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Hội cựu chiến binh Việt Nam) là cơ sở của chính quyền nhân dân. Mỗi bộ phận trong hệ thống chính trị có vị trí, vai trò nhất định.
Đảng cộng sản Việt Nam là lực lƣợng lãnh đạo hệ thống chính trị nƣớc ta. Hiến pháp 1992 tại Điều 4 quy định “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Nhƣ vậy, Đảng cộng sản Việt Nam là lực lƣợng lãnh đạo, hƣớng dẫn xã hội, là hạt nhân của hệ thống chính trị, các cơ quan và tổ chức xã hội ở nƣớc ta. + Quyền lực chính trị hiểu theo nghĩa khoa học chính trị hiện đại là cơ hội mà ngƣời ta xác lập đƣợc những chế định bắt buộc cho xã hội bất chấp sự phản kháng của ngƣời khác.
Hiểu theo nghĩa hẹp hơn thì đó là quyền lực của một giai cấp hay liên minh giai cấp để thực hiện sự thống trị chính trị trên cơ sở thực hiện chức năng công quyền, cơ bản bằng quyền lực nhà nước, là năng lực áp đặt và thực thi các giải pháp phân bổ giá trị xã hội có lợi cho giai cấp mình và đảm bảo mức độ nhất định sự công bằng xã hội [58, 219]. Trên thực tế quyền lực chính trị hiểu một cách cụ thể nhất, đƣợc thể hiện ở ba loại quyền gắn với những bộ phận cốt lõi của hệ thống chính trị đó là quyền lập pháp, tƣ pháp và hành pháp. Trong các hệ thống chính trị phƣơng Tây, báo chí đƣợc coi là quyền lực thứ tƣ - quyền giám sát ba quyền trên. Trong điều kiện Việt Nam, ba quyền đó không phân biệt rạch ròi mà đƣợc tích hợp vào nhau dƣới một sự lãnh đạo cao nhất đó là vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
Do vậy quyền lực chính trị trong hệ thống chính trị Việt Nam phải đƣợc hiểu là quyền lực của nhân dân, nói nhƣ Hồ Chí Minh thì “tất cả mọi quyền lực thuộc về 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân dân”. Quyền lực chính trị của nhân dân đƣợc thể chế hóa thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng, các cơ quan dân cử, hệ thống chính quyền và các bộ phận khác của hệ thống chính trị. Trong hệ thống chính trị nƣớc ta, các quan hệ chính trị đƣợc xác lập do một cơ chế chủ đạo (và cũng là quan hệ chủ đạo): Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nƣớc quản lý. Đảng lãnh đạo bằng các cƣơng lĩnh, đƣờng lối, chủ trƣơng, thông qua các nghị quyết của các tổ chức Đảng, từ nghị quyết đại hội Đảng đến nghị quyết chi bộ cơ sở.
Đƣờng lối cƣơng lĩnh của Đảng đƣợc thể chế hóa trong hiến pháp và pháp luật, trong hệ thống văn bản pháp quy của nhà nƣớc. Lãnh đạo bằng giáo dục, tuyên truyền, vận động, nêu gƣơng, bằng công tác tổ chức và cán bộ, bằng công tác kiểm tra. Nhân dân làm chủ, trƣớc hết đƣợc xác định ở địa vị chủ thể quyền lực Nhà nƣớc. Chỉ nhân dân mới có chủ quyền đối với quyền lực Nhà nƣớc, nhƣng nhân dân ủy quyền ấy cho các đại biểu của mình và giám sát đại biểu đó trong quá trình thực thi quyền lực nhà nƣớc.
Nhân dân cũng còn làm chủ bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp thông qua các đại biểu, các cơ quan dân cử và các đoàn thể của dân. Quyền làm chủ của nhân dân ở nƣớc ta không chỉ đƣợc đảm bảo bằng Hiến pháp, pháp luật, mà còn bằng hệ thống truyền thông, các phƣơng tiện thông tin đại chúng, các cuộc vận động, thông qua thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Nhà nƣớc quản lý xã hội trƣớc hết bằng hệ thống quy phạm pháp luật, bằng hệ thống các cơ quan quản lý nhà nƣớc từ các Bộ đến các cơ sở, trong đó không loại trừ các biện pháp cƣỡng chế để đảm bảo thực hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Nhà nƣớc thực hiện quản lý trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quản lý theo ngành hoặc lãnh thổ theo cấp vĩ mô hoặc vi mô.
Nhà nƣớc thực hiện sự quản lý bằng cả chính sách, các công cụ đòn bẩy khác… Mục tiêu là phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, phát huy 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân đƣợc làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm. + Xã hội hóa chính trị: Trong khoa học chính trị hiện đại nói chung thì xã hội hóa chính trị là một khái niệm rất quan trọng. Nó đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, về tâm lý học và xã hội học: Một con ngƣời sinh ra lúc đầu là trẻ con, chƣa tham gia nhiều vào quá trình tƣơng tác xã hội, thì xã hội hóa chính trị là quá trình làm cho con ngƣời xã hội của nó ngày càng lớn lên trong mối tƣơng tác với xã hội, làm quen với các chế định bắt buộc - đó là quá trình xã hội hóa của một cá nhân. Nghĩa thứ hai, về góc độ chính trị thì xã hội hóa chính trị là làm cho các chế định bắt buộc bao gồm các quy ƣớc, quy định, tiêu chí ứng xử chính trị, đƣờng lối lãnh đạo của Đảng, pháp luật của nhà nƣớc.v… đƣợc ngƣời dân, xã hội nhận thức, hiểu đúng và làm theo.