Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG WEBQUEST VÀO DẠY HỌC VẬT LÍ 1. Webquest và vai trò của webquest trong dạy học vật lí. Khái niệm webquest 1.
Định nghĩa Webquest (thuật ngữ tiếng Anh) là một hình thức dạy học mới và được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong giáo dục phổ thông cũng như đại học. Có nhiều định nghĩa cũng như cách mô tả khác nhau về webquest. Theo nghĩa hẹp, webquest được hiểu như một phương pháp dạy học (Webquest-Method), theo nghĩa rộng webquest được hiểu như một mô hình, một quan điểm về dạy học có sử dụng mạng Internet. Webquest cũng là nội dung dạy học được xây dựng để sử dụng phương pháp này, và là trang webquest được đưa lên mạng.
Khi gọi webquest là một phương pháp dạy học, cần hiểu đó là một phương pháp phức hợp, trong đó có thể sử dụng những phương pháp cụ thể khác nhau. Theo Bernie Dodge: Webquest là một hoạt động theo định hướng yêu cầu, trong đó một số hoặc tất cả các thông tin mà người học tương tác với đến từ các nguồn tài nguyên trên internet, tùy chọn bổ sung với hội nghị truyền hình. Có ít nhất hai cấp độ của webquest cần được phân biệt với nhau [14]. Theo Nguyễn Văn Cường: “Webquest là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn.
Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (Internetlinks) do giáo viên chọn từ trước. Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được học sinh trình bày và đánh giá”[18]. Theo VVOB: “Webquest là một bài tập yêu cầu người học sử dụng World Wide Web để học hay tổng hợp kiến thức về một chủ đề cụ thể. Một webquest đòi hỏi sự tổng hợp kiến thức mới bằng cách hoàn thành một “bài tập” hay một “nhiệm vụ tìm kiếm”, thường là để giải quyết một giả thuyết hay một vấn đề thực tế” [8].
Như vậy, webquest là một phương pháp dạy học mới, được xây dựng trên cơ 11 sở phương tiện dạy học mới là công nghệ thông tin và ở internet. Trong tiếng Việt chưa có cách dịch hoặc dùng thuật ngữ thống nhất cho khái niệm này. Trong tiếng Anh, web đây nghĩa là mạng, quest nghĩa là tìm kiếm, khám phá. Dựa trên thuật ngữ và bản chất của khái niệm có thể gọi webquest là phương pháp “khám phá trên mạng”.
Webquest là một dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy cập mạng Internet. Phân loại Webquest có thể được chia thành các webquest lớn và các webquest nhỏ [7]: - Webquest lớn: xử lý một vấn đề phức tạp trong một thời gian dài và có thể coi như một dự án dạy học. - Webquest nhỏ: trong một vài tiết học (từ 2 đến 4 tiết), học sinh xử lý một đề tài chuyên môn bằng cách tìm kiếm thông tin và xử lý chúng cho bài trình bày, tức là các thông tin chưa được sắp xếp sẽ được lập cấu trúc theo các tiêu chí và kết hợp vào kiến thức đã có trước của người học. Đặc điểm Webquest được xây dựng bao gồm một số bước cụ thể, từ giới thiệu và nhiệm vụ, đến đánh giá quá trình học tập.
Thông thường, webquest sẽ đưa ra một danh sách các đường liên kết để hỗ trợ người học hoàn thành một hoạt động. Người học thường đóng một vai trò nào đó. Họ có thể học theo nhóm và mỗi cá nhân sẽ đảm đương một trách nhiệm như quan sát, thu thập thông tin, ghi chép, báo cáo, trình bày, vv… Mục đích của hoạt động sử dụng webquest là để thúc đẩy kết quả học tập, mà kết quả này đạt được thông qua quá trình đọc, phân tích, tổng hợp các thông tin trên mạng. Sức mạnh của webquest nằm ở chỗ nó phát huy sức mạnh của người học về các vấn đề thực tế và trong quá trình thực hiện, người học dần dần trở thành những người hiểu biết cơ bản về công nghệ thông tin - một trong những hiểu biết quan trọng của một công dân thực sự của thế kỷ 21.
[8] Như vậy, Theo Nguyễn Văn Cường thì Webquest có những đặc điểm như sau: Chủ đề dạy học gắn với tình huống thực tiễn và mang tính phức hợp: Chủ đề dạy học đ ư ợ c lựa chọn trong webquest là những chủ đề gắn với thực tiễn, có thể là những tình huống lịch sử mang tính điển hình, hoặc những tình huống mang tính thời sự. Đó là những tình huống mang tính phức hợp có thể xem xét 12 dưới nhiều phương diện khác nhau và có nhiều quan điểm khác nhau để giải quyết. Định hướng hứng thú HS: Nội dung của chủ đề và PPDH định hướng vào hứng thú, tích cực hoá động cơ học tập của HS. Tính tự lực cao của người học: Quá trình học tập là quá trình tự điều khiển, HS cần tự lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự điều khiển và kiểm tra, GV đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn.
Quá trình học tập là quá trình tích cực và kiến tạo: Khác với việc truy cập mạng thông thường nhằm thu thập thông tin, trong webquest HS cần tìm, xử lý thông tin nhằm giải quyết một nhiệm vụ. HS cần có quan điểm riêng trên cơ sở lập luận để trả lời câu hỏi hoặc giải quyết vấn đề. Quá trình học tập mang tính xã hội và tương tác: Hình thức làm việc trong webquest chủ yếu là làm việc nhóm. Do đó việc học tập mang tính xã hội và tương tác.
Quá trình học tập định hướng nghiên cứu và khám phá: Để giải quyết vấn đề đặt ra HS cần áp dụng các phương pháp làm việc theo kiểu nghiên cứu, khám phá và hoạt động điển hình của HS trong webquest là tìm kiếm, đánh giá, hệ thống hóa, trình bày trong sự trao đổi với những HS khác. HS cần thực hiện và từ đó phát triển những khả năng tư duy nhất: - So sánh: Nhận biết và nêu ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các đối tượng, các quan điểm. - Phân loại: Sắp xếp các đối tượng vào các nhóm trên cơ sở tính chất của chúng và theo những tiêu chuẩn sẽ được xác định. - Suy luận: Xuất phát từ các quan sát hoặc phân tích mà suy ra các tổng quát hóa hoặc những nguyên lý chưa được biết.
- Kết luận: Từ những nguyên lý cơ bản và các tổng quát hóa đã có mà suy ra những kết luận và điều kiện được biết nêu ra. - Phân tích sai lầm: Nhận biết và nêu ra những sai lầm trong các quá 13 trình tư duy của chính mình hoặc của những người khác. - Chứng minh: X ây dựng chuỗi lập luận để hỗ trợ hoặc chứng minh một giả thiết. Webquest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học.
Điều kiện cơ bản là người học phải có kỹ năng đọc và có thể tiếp thu, xử lý các thông tin dạng văn bản. Bên cạnh đó, người học cũng phải có những kiến thức cơ bản trong thao tác với máy tính và internet. Webquest có thể sử dụng cho mọi môn học. Ngoài ra, webquest rất thích hợp cho việc dạy liên môn.
Cấu trúc của webquest Một webquest thường gồm các phần: giới thiệu (Introduction), nhiệm vụ (Task), tiến trình (Process), đánh giá (Evaluation), kết luận (Conclusion).1 Cấu trúc của một webquest. Giới thiệu Phần này viết cho người đọc là các em học sinh. Viết một đoạn ngắn ở đây giới thiệu cho học sinh về bài học, về các nhiệm vụ. Nếu trong phần nhiệm vụ có yêu cầu các em phân vai hoặc theo một kịch bản nào đó thì phần giới thiệu là nơi chúng ta dàn dựng sân khấu.
Nếu không muốn dẫn nhập theo cách kích thích trí tưởng tượng như vậy, có thể nói tổng quan về bài học, cách tổ chức hoặc phân công thực hiện. 14 Trong phần này, nên đưa ra một vấn đề chủ đạo, gợi ý, hướng dẫn. Về sau toàn bộ webquest xoay quanh vấn đề này. Nhiệm vụ Các nhiệm vụ phải mô tả ngắn gọn, rõ ràng các kết quả mà học sinh phải đạt được: - Vấn đề đưa ra phải được giải quyết - Sản phẩm phải được thiết kế hoàn tất - Các nhiệm vụ phức tạp phải nghiên cứu - Các ý kiến, nhận xét của cá nhân học sinh - Các bảng tổng kết - Các kết quả mang tính sáng tạo - Các nhiệm vụ yêu cầu học sinh phải biết xử lý và diễn đạt lại thông tin - Liệt kê tên các phần mềm sử dụng (nếu bắt buộc), không liệt kê các bước thực hiện (sẽ nêu ở trong phần tiến trình).
Có nhiều dạng nhiệm vụ trong webquest. Chúng tôi nêu ra các nhiệm vụ thông thường và nhiệm vụ thường giao trong bộ môn Vật lí như sau: A. Các loại nhiệm vụ thông thường Có nhiều dạng nhiệm vụ trong webquest. Dodge phân biệt những loại nhiệm vụ sau: [7] 1.
Tái hiện thông tin các thông tin (bài tập tường thuật) Dạng nhiệm vụ bài tập tường thuật là dạng đơn giản nhất. Trong giảng dạy, GV thường ít giao dạng nhiệm vụ này vì ít kích thích trí tò mò của HS. HS tìm kiếm những kiến thức liên quan đến chủ đề mà GV đã giao nhiệm vụ, sau đó chọc lọc những kiến thức cần thiết và viết lại nội dung một cách ngắn gọn theo sự hiểu biết của mình để trả lời các câu hỏi đã yêu cầu trong nhiệm vụ. HS có thể trình bày kết quả của mình trên nhiều phương tiện khác nhau (các áp phích, các bài viết ngắn, Word, PowerPoint, Web.) Ví dụ: Tìm hiểu thông tin ở các trong web sau: http://vi.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_s%E1%BA%AFt http://phanminhchanh.info/home/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2089 15 http://thuvienvatly.com/tai-lieu/neohacker/sgk-vat-ly-10/GTDT/ Bai%20hoc/Bai36.Su%20no%20vi%20nhiet%20cua%20VR.htm Sau đó trả lời các câu hỏi sau: + Giải thích một số hiện tượng sự nở vì nhiệt + Nêu một số ứng dụng của hiện tượng sự nở vì nhiệt.
+ Nêu cách khắc phục tác dụng có hại của sự nở vì nhiệt của vật rắn 2. Tổng hợp thông tin (bài tập biên soạn) Dạng bài tập biên soạn yêu cầu HS có khả năng tổng hợp lại những kiến thức từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau xoay quanh một chủ đề nào đó. Đây là dạng nhiệm vụ nâng cao hơn của bài tập tường thuật và là tổng hợp của bài tập tường thuật. HS phải biết chọn lọc những kiến thức cần thiết để trả lời những vấn đề nhỏ, những vấn đề nhỏ này xây dựng lên chủ đề chung.
HS có thể trình bày kết quả trên nhiều phương tiện khác nhau. Ví dụ: Hãy dựa vào thông tin trên các trang web sau để trình bày ý nghĩa của hệ số nở dài.info/home/modules.php?name=News&op=viewst&sid=2089 3. Giải điều bí ấn Dạng nhiệm vụ này thường được GV giao cho HS nhiều nhất.