CHƯƠNG 1. DAT VẤN DE 1. Giới thiệu chung Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập và phat triển với ban bè thế giới. Trong bối cảnh đó, vai trò của ngành xây dựng lại càng được chú trọng hơn bởi lẽ tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng trong việc thu hút các đối tác chiến lược đầu tư là vô cùng to lớn.
Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, thật không quá khó dé tìm ra những bai báo phản ánh các tai nạn do thiếu tuân thủ an toàn lao động trong quá trình thi công các công trình xây dựng. Theo số liệu thông kê của Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội về tình hình tai nạn lao động trong năm 2016, trên địa bàn cả nước xảy ra 7.981 vụ tai nan lao động lam 8.251 người bi nạn. Trong đó, phân tích từ 202 biên bản điều tra tai nạn lao động chết người nhận được: nguyên nhân tai nạn do người sử dụng lao động chiếm 42,1% và nguyên nhân do người lao động chiếm 17,3%; các tai nạn phố biến và chiếm tỉ lệ cao là té cao; điện giật; vat roi, đồ sập. Cụ thể, trên trang báo điện tử của Bộ xây dựng, một bài viết đăng ngày 23/08/2016 có nêu: tại một công trình xây nhà ở cao tầng tại đường Nguyễn Công Trứ (TP.
Vĩnh Yên), nhiều thợ xây trên độ cao 20-30 mét nhưng không trang bị dây bảo hiểm an toàn và bên dưới không được bố trí lưới chắn bảo hộ. Khi được hỏi nguyên nhân vì sao không mang dụng cụ bảo hộ lao động, công nhân Nguyễn Duy Hưng chủ quản nói: “Đội nón, mang găng tay gây vướng víu trong quá trình làm việc nên hầu như mọi người ở đây đều không thích mang, chi cần mình cần thận một chút là không sao”. Hay theo trang báo điện tử Công an TP. Hỗ Chí Minh, ngày 11/05/2017, tại tòa nhà Diamond Plaza, đường Lê Duan (TP.
Hồ Chí Minh), trong lúc đang đứng trên giàn giáo để làm việc, một nam công nhân trượt chân té xuống đất bị thương nặng, theo các hình ảnh hiện trường không khó để xác nhận người công nhân thiếu các thiếu bị bảo hộ lao động và biện pháp thi công không an toàn. Những tai nạn thực tế đã xảy ra chính là hồi chuông cảnh báo về ý thức chấp hành các quy định về an toàn lao động của mỗi công nhân xây dựng nói riêng và ban quản lý xây dựng nói chung. Ngành: Quản Lý Xây Dựng HVTH : LE THANH TAN Khóa: 2015 đợt 2 MSHV : 1570696 LUẬN VĂN THẠC SĨ 11 GVHD: TS. LE HOAI LONG 1.
Van đề nghiên cứu Điều đáng quan ngại chính là không những người sử dụng lao động không chú trọng đến an toàn của người lao động, mà bản thân người lao động lại càng không ý thức được tầm quan trọng của các công cụ bảo hộ lao động trước những nguy cơ tai nạn đáng tiếc có thé xảy ra. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các sai sót của người lao động là nguyên nhân chính của các tai nạn lao động và điều này có thể được giảm thiểu nhờ các chương trình đảo tạo an toàn lao động. Chính vì thế, việc dé xuất ra một phương pháp đảo tạo hiệu quả cho những người làm việc trong ngành xây dựng nói chung và sinh viên ngành xây dựng của Trường Dai học Bách Khoa TP. HCM nói riêng sẽ giúp họ thay đối nhận thức về an toàn lao động và hình thành thói quen sử dụng công cụ bảo hộ lao động trong khi làm việc.
Hơn thế nữa, phương pháp này còn giúp người học biết cách phòng ngừa và ngăn chặn tai nạn lao động xảy ra. Nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc ứng dụng Thực tế ảo trong việc trải nghiệm các tai nạn lao động khi làm việc trên cao (như tế cao; vật rơi; đồ sập) bên cạnh các phương pháp đảo tạo an toàn lao động thông thường. Đồng thời, việc ứng dụng Thực tế ảo còn cung cấp thêm sự lựa chọn các biện pháp an toàn nhằm khắc phục các tình huống mất an toản trong môi trường ảo. Từ đó, hình thành cho người lao động thói quen tư duy và làm việc an toàn khi làm việc trên cao tại các công trường xây dựng.
Mục tiêu nghiền cứu — Tạo ra một môi trường ảo mô phỏng tương đối đầy đủ cảnh quan và tình huống tai nạn có thé xảy ra khi làm việc trên cao của công trường xây dựng. — Đề xuất việc ứng dụng Thực tế ảo — Virtual Reality (VR) nhằm đem đến sự trải nghiệm các tình huống tai nạn lao động và khắc phục các tình huéng mất an toàn trong công trường ảo khi làm việc trên cao. — Khăng định tính hiệu quả của việc ứng dụng Thực tế ảo — Virtual Reality (VR) trong đào tạo an toàn lao động khi làm việc trên cao bên cạnh việc đào tạo băng các phương pháp thông thường. Ngành: Quản Lý Xây Dựng HVTH : LE THANH TAN Khóa: 2015 đợt 2 MSHV : 1570696 LUẬN VĂN THẠC SĨ 12 GVHD: TS.
LÊ HOÀI LONG 1. Phạm vi nghiên cứu — Đối tượng nghiên cứu: Ứng dụng Thực tế ảo — Virtual Reality (VR) trong việc đào tạo an toản lao động khi làm việc trên cao cho ngành xây dựng tại TP. Hồ Chí Minh. — Đối tượng khảo sát: Sinh viên chuyên ngành Dân dụng và Công nghiệp của Khoa Kỹ thuật Xây dựng trường Đại học Bách Khoa TP.
— Thời gian nghiên cứu: từ tháng 02/2017 đến tháng 12/2017. Đóng góp dự kiến của nghiên cứu 1. Về mặt học thuật — Nghiên cứu nay xem xét va tong hợp các chủ dé đào tạo nhằm huấn luyện an toàn lao động khi làm việc trên cao trong ngành xây dựng. — Đưa ra một sự tiếp cận mới trong việc đào tạo an toản lao động bằng cách ứng dụng Thực tế ảo (VR) trong việc trải nghiệm và khắc phục các tình huống tai nạn lao động cho ngành xây dựng khi làm việc trên cao.
— Đánh giá tính hiệu quả và khả thi của việc ứng dụng Thực tế ảo — Virtual Reality (VR) trong đào tạo an toàn lao động khi làm việc trên cao bên cạnh việc đào tạo băng các phương pháp thông thường. — Nhận định giới hạn của nghiên cứu và các dé xuất cho các nghiên cứu tương tự trong tương lai. Về mặt thực tiễn — Nghiên cứu này cung cấp một phương tiện trực quan nhằm giúp những người làm việc trong ngành xây dựng có thể cảm nhận và trải nghiệm nhiều nhất về tai nạn lao động. — Cải thiện, nâng cao ý thức phòng ngừa, cảnh giác và khắc phục tình trạng mất an toàn khi làm việc trên cao ở công trường xây dựng.
Ngành: Quản Lý Xây Dựng HVTH : LE THANH TAN Khóa: 2015 đợt 2 MSHV : 1570696 LUẬN VĂN THẠC SĨ 13 GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG CHUONG 2. Cac khai niém va ly thuyét duoc sir dung trong nghién ciru 21. Tai nạn lao động Theo Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ban hành ngày 25/06/2015 của Quốc Hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Tai nan lao động (TNLĐ) là tai nạn gây tôn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nao của co thé hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
An toàn lao động Theo Luật an toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13 ban hành ngày 25/06/2015 của Quốc Hội Nước Cong hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, An toan lao động (ATLD) la giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Chương trình huấn luyện Theo Thông tư 27/2013/TT-BLĐTBXH quy định về công tác huẫn luyện an toàn lao dong, vệ sinh lao động do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành, Chương trình huấn luyện là quy định về kết cấu nội dung, số lượng, thời lượng các phần huấn luyện, tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành, bảo đảm mục tiêu cho từng công việc được huấn luyện. Chương trình huấn luyện được xây dựng phù hợp với từng nhóm đối tượng huấn luyện trên cơ sở quy định của pháp luật; phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia về an toàn lao dong, vệ sinh lao động: phù hợp với điều kiện thực tiễn ở cơ sở. Kết cấu chương trình huấn luyện bao gồm phần nội dung huấn luyện chung và phần nội dung huấn luyện theo đặc thù riêng: trong đó phần huấn luyện theo đặc thù riêng do Tổ chức hoạt động dịch vụ huấn luyện và cơ sở tô chức huẫn luyện tự quyết định trên cơ sở phân tích, đánh giá những đặc điểm riêng phù hợp với ngành, nghề và điều kiện lao động thực tê ở cơ sở.
Ngành: Quản Lý Xây Dựng HVTH : LE THANH TAN Khóa: 2015 đợt 2 MSHV : 1570696 LUẬN VĂN THẠC SĨ 14 GVHD: TS. LÊ HOÀI LONG 2. Thực tế ảo — Virtual Reality (VR) Thực tế ảo — Virtual Reality (VR) là một công nghệ có sử dụng máy tính, phần mềm và phân cứng ngoại vi để tạo ra một môi trường ảo cho con người sử dụng. Môi trường ảo — Immersive Virtual Environments (IVE) được tao ra dé một người có thé hòa nhập vào đó băng cách dùng các giác quan của chính họ.
Bên cạnh đó, IVE còn có thé làm giảm hoặc loại bỏ các nhận thức của người dùng về môi trường thực tế. Một IVE thường sẽ có các tính năng sau: bao quanh người dùng, che khuất tín hiệu từ môi trường thực tế và tăng cảm giác “hiện diện” trong IVE; cung cấp các hình ảnh ba chiều sinh động: theo dõi vi trí và cập nhật các bối cảnh ảo cho phù hợp với hành động của người dùng: cho phép người dùng có thể kiểm soát các đối tượng trong IVE (Bailenson và đồng tác giả, 2008). Sơ lược lịch sứ hình thành và phát triển của Thực té ao Công nghệ thực tế ao (VR) đã xuất hiện từ trước những năm 1950 va phát triển mạnh trong những năm gan đây nhờ vào sự phát triển của các sản phẩm phần mềm và phan cứng. Năm 1938, nhà viết kịch Antonin Artaud đã mô tả ban chất huyền ao va gia tưởng cua con người và vật thé trong cuốn sách “Le Thédtre et son double”; cuỗn sách được dịch sang tiếng Anh vào năm 1958 dưới tên gọi “The Theater and its Double” và được xem là tài liệu xuất bản dau tiên trên thế giới sử dụng thuật ngữ “Virtual Reality’ (Tuan Le Duc, 2017).
(2017), một trong những sản phẩm thực tế ao đầu tiên trên thé giới được phat minh boi Morton Heilig (Hoa Ky) vao năm 1962 là thiết bi mô phong Sensorama.