CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về xử lý ảnh 1.1 Khái quát về xử lý ảnh Xử lý ảnh là một lĩnh vực mang tính khoa học và công nghệ. Nó là một ngành khoa học mới mẻ so với nhiều ngành khoa học khác nhưng tốc độ phát triển của nó rất nhanh, kích thích các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng, đặc biệt là máy tính chuyên dụng riêng cho nó. Các phương pháp xử lý ảnh bắt đầu từ các ứng dụng chính: nâng cao chất lượng ảnh và phân tích ảnh. Ứng dụng đầu tiên được biết đến là nâng cao chất lượng ảnh báo được truyền qua cáp vào năm 1920.
Vấn đề nâng cao chất lượng ảnh liên quan tới phân bố mức sáng và độ phân giải của ảnh. Việc nâng cao chất lượng ảnh được phát triển vào khoảng những năm 1955. Điều này có thể giải thích được vì sau thế chiến thứ hai, máy tính phát triển nhanh tạo điều kiện cho quá trình xử lý ảnh số thuận lợi. Năm 1964, máy tính đã có khả năng xử lý và nâng cao chất lượng ảnh từ mặt trăng và vệ tinh Ranger 7 của Mỹ bao gồm: làm nổi đường biên, lưu ảnh.
Từ năm 1964 đến nay, các phương tiện xử lý, nâng cao chất lượng, nhận dạng ảnh phát triển không ngừng. Các phương pháp tri thức nhân tạo như mạng nơ ron nhân tạo, các thuật toán xử lý hiện đại và cải tiến, các công cụ nén ảnh ngày càng được áp dụng rộng rãi và thu nhiều kết quả khả quan. Xử lý ảnh số bao gồm các phương pháp và kỹ thuật biến đổi, để truyền tải hoặc mã hoá các ảnh tự nhiên. Mục đích của xử lý ảnh gồm: Biến đổi ảnh làm tăng chất lượng ảnh.
Tự động nhận dạng ảnh, đoán nhận ảnh, đánh giá các nội dung của ảnh. Nhận biết và đánh giá các nội dung của ảnh là sự phân tích một hình ảnh thành những phần có ý nghĩa để phân biệt đối tượng này với đối tượng khác, dựa vào đó ta có thể mô tả cấu trúc của hình ảnh ban đầu. Có thể liệt kê một số phương pháp nhận dạng cơ bản như nhận dạng ảnh của các đối tượng trên ảnh, tách cạnh, phân đoạn hình ảnh,. Kỹ thuật này được dùng nhiều trong y học (xử lý tế bào, nhiễm sắc thể), nhận dạng chữ trong văn bản.
3 Ảnh có thể xem là tập hợp các điểm ảnh và mỗi điểm ảnh được xem như là đặc trưng cường độ sáng hay một dấu hiệu nào đó tại một vị trí nào đó của đối tượng trong không gian và nó có thể xem như một hàm n biến P(c,c1,c2,. Do đó, ảnh trong xử lý ảnh có thể xem như ảnh nhiều chiều. Các bước cơ bản trong một hệ thống xử lý ảnh Sơ đồ này bao gồm các thành phần sau : a. Phần thu nhận ảnh ( Image Acquisition ) Ảnh có thể nhận qua camera màu hoặc đen trắng.
Thường ảnh nhận qua camera là ảnh tương tự, cũng có loại camera đã số hóa là loại photodiot tạo cường độ sáng tại mỗi điểm ảnh. Camera thường dùng là loại quét dòng, ảnh tạo ra có dạng hai chiều. Chất lượng một ảnh thu nhận phụ thuộc vào thiết bị thu vào môi trường. Tiền xử lý ( Image Processing) Sau bộ thu nhận, ảnh có thể nhiễu độ tương phản thấp nên cần đưa ra bộ tiền xử lý để nâng cao chất lượng.
Chức năng chính của bộ tiền xử lý là lọc nhiễu, nâng độ tương phản để làm ảnh rõ hơn, nét hơn. Phân đoạn hay phân vùng ảnh Phân vùng ảnh là tách một ảnh đầu và thành các vùng thành phần để biểu diễn phân tích, nhận dạng ảnh. Ví dụ: để nhận dạng chữ trên phong bì thư cho mục đích phân loại bưu phẩm, cần chia các câu, chữ về địa chỉ hoặc tên người thành các từ, các chữ, các số riêng biệt để nhận dạng. Đây là phần phức tạp khó 4 khăn nhấ trong xử lý ảnh và cũng dễ gây lỗi, làm mất độ chính xác của ảnh.
Kết quả nhận dạng ảnh phụ thuộc rất nhiều vào công đoạn này. Biểu diễn ảnh (Image Representation) Đầu ra ảnh sau phân đoạn chứa các điểm ảnh của vùng ảnh cộng với mã liên kết với các vùng lân cận. Việc biến đổi các số liệu này thành dạng thích hợp là cần thiết cho xử lý tiếp theo bằng máy tính. Việc chọn các tính chất để thể hiện ảnh gọi là trích chọn đặc trưng gắn với việc tách các đặc tính của ảnh dưới dạng các thông tin định lượng hoặc làm cơ sở để phân biệt lớp đối tượng này tới đối tượng khác trong phạm vi ảnh nhận dạng được.
Nhận dạng và nội suy ảnh (Image Recognition anh Interpretation) Nhận dạng ảnh là quá trình xác định ảnh. Quá trình này thường thu được bằng cách so sánh mẫu chuẩn đã được học từ trước. Nội suy là đoán theo ý nghĩa trên cơ sở nhận dạng. Ví dụ: một loạt chữ số và nét gạch ngang trên phong bì thư có thể được nội suy thành mã điện thoại.
Có nhiều cách phân loại ảnh khác nhau về ảnh. Theo lý thuyết về nhận dạng, các mô hình toán học về được phân theo hai loại nhận dạng ảnh cơ bản: - Nhận dạng theo tham số. - Nhận dạng theo cấu trúc. Một số đối tượng nhận dạng khá phổ biến hiện nay đang được áp dụng trong khoa học và công nghệ là: nhận dạng ký tự, nhận dạng vân tay, nhận dạng mã vạch, nhận dạng mặt người f.
Cơ sở tri thức (Knowledge Base) Ảnh là đối tượng khá phức tạp về đường nét, độ sáng tốt, dung lượng điểm ảnh, môi trường để thu ảnh phong phú kéo theo nhiễu. Trong nhiều khâu xử lý và phân tích ảnh ngoài việc đơn giản hóa các phương pháp toán học đảm bảo tiện lợi cho xử lý, người ta mong muốn bắt chước quy trình tiếp nhận và xử lý ảnh theo cách của con người. Trong các bước xử lý ảnh đó, nhiều khâu hiện nay đã xử lý 5 theo các phương pháp trí tuệ con người. Vì vậy, ở đây các cơ sở tri thức được phát huy.
Mô tả ( Biể diễn ảnh) Ảnh sau khi số hóa sẽ được lưu vào bộ nhớ, hoặc chuyển sang các khâu tiếp theo để phân tích. Nếu lưu trữ ảnh trực tiếp từ các ảnh thô, đòi hỏi dung lượng bộ nhớ cực lớn và không hiệu quả theo quan điểm ứng dụng và công nghệ. Thông thường, các ảnh thô đó được đặc tả lại theo các đặc điểm của ảnh được gọi là các đặc trưng ảnh, vùng ảnh. Một số phương pháp biểu diễn thường dùng: - Biểu diễn bằng mã chạy ( Run-Length Code) - Biểu diễn bằng mã xích (Chaine-Code) - Biểu diễn bằng mã tứ phân (Quad-Tree Code) 1.2 Những vấn đề cơ bản trong hệ thống xử lý ảnh a.
Điểm ảnh (Picture Element) Gốc của ảnh là ảnh liên tục về không gian và độ sáng. Để xử lý bằng máy tính, ảnh cần phải được số hóa. Số hóa ảnh là sự biến đổi gần đúng một ảnh liên tục thành một tập điểm phù hợp với ảnh thật về vị trí và độ sáng (mức xám). Khoảng cách giữa các điểm ảnh đó được thiết lập sao cho mắt người không phân biệt được ranh giới giữa chúng.
Mỗi một điểm ảnh như vậy hay gọi tắt là Pixel. Trong khuôn khổ ảnh hai chiều, mỗi pixel ứng với cặp tọa độ (x,y). Định nghĩa: điểm ảnh (Pixel) là một phần tử của ảnh số tại tọa độ (x,y) với độ xám hoặc màu nhất định. Kích thước và khoảng cách giữa các điểm ảnh đó được chọn thích hợp sao cho mắt người cảm nhận sự liên tục về không gian và mức xám (hoặc màu) của ảnh số gần như ảnh thật.
Mỗi phần ử rong ma trận được gọi là một phần tử ảnh. Độ phân giải của ảnh Độ phân giải (Resolution) của ảnh là mật độ điểm ảnh được ấn định trên một ảnh số được hiển thị. 6 Khoảng cách giữa các điểm ảnh phải được chọn sao cho mắt người vẫn thấy được sự liên tục của ảnh. Việc lựa chọn khoảng cách thích hợp tạo nên một mật độ phân bố, đó chính là độ phân giải và phân bố theo chục x và y trong không gian hai chiều.
Ảnh trên màn hình là một lưới điểm theo chiều ngang màn hình: 320 điểm chiều dọc * 200 điểm ảnh. Mức xám của ảnh Một điểm ảnh (Pexel) có hai đặc trưng cơ bản là vị trí (x,y) của điểm ảnh và độ xám của nó. Một số thuật ngữ dùng trong xử lý ảnh. Mức xám của điểm ảnh là cường độ sáng của nó được gán bằng giá trị số tại điểm đó.
Các thang giá trị mức xám thông thường: 16, 32, 64, 128, 256. Ảnh đen trắng: là ảnh có hai màu đen, trắng với mức xám ở các điểm ảnh có thể khác nhau. Ảnh nhị phân: ảnh chi có 2 mức đen trắng phân biệt tức dùng 1 bit mô tả mức khác nhau. Ảnh màu: trong khuôn khổ lý thuyết ba màu (Red, Blue, Green) để tạo nên thế giới, người ta thường dùng 3 byte để mô tả là mức màu.
Định nghĩa ảnh số Ảnh số là tập hợp các điểm ảnh với mức xám phù hợp dùng để mô tả ảnh gần với ảnh thật.3 Những vấn đề khác trong xử lý ảnh a. Biến đổi ảnh (Image Transform) Trong xử lý ảnh do số điểm ảnh lớn các tính toán nhiều đòi hỏi dung lượng bộ nhớ lớn, thời gian tính toán lâu. Các phương pháp khoa học kinh điển áp dụng cho xử lý ảnh hầu hết khó khả thi. Người ta sử dụng các phép toán tương đương hoặc biến đổi sang miền xử lý khác để dễ tính toán.
Sau khi xử lý dễ dàng hơn 7 được thực hiện, dùng biến đổi ngược để đưa về miền xác định ban đầu, các biến đổi thường gặp trong cử lý ảnh gồm: - Biến đổi Fourier, Cosin, Sin - Biến đổi ảnh bằng tích chập, tích Kronecker - Các biến đổi khác như Karhumen Loeve), Hadamard b. Nén ảnh Ảnh dù ở dạng nào vẫn chiếm không gian nhớ rất lớn. Khi mô tả ảnh người ta đã đưa kỹ thuật nén ảnh vào. Các giai đoạn nén ảnh có thể chia ra thế hệ một, thế hệ hai.
Hiện nay, các chuẩn MPEG được dùng với ảnh được phát huy hiệu quả.4 Nhận dạng đối tượng trong xử lý ảnh a. Bài toán nhận dạng đối tượng Nhận dạng đối tượng (Object recognition) là lĩnh vực thuộc “học máy (Machine Learning)” nghiên cứu việc tìm một đối tượng trong một ảnh hay video cho trước là một trong những ứng dụng của thị giác máy tính. Đó là việc phát hiện lớp đối tượng cụ thể với các lớp đối tượng khác của hệ thống.