CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THÍNH HỌC 1.1 Cơ bản về thính giác và bệnh khiếm thính. Thính giác là một trong năm giác quan của con người, là một trong hai cửa ngõ chính để con người tiếp thu thông tin. Bên cạnh thị giác giúp thu nhận hình ảnh, thính giác giúp con người thu nhận âm thanh qua đó đánh giá sự vật, thu nhận lời nói qua đó chuyển tải các thông tin trực tiếp lên não. Đặc biệt, thính giác là tiền đề để phát triển ngôn ngữ như đã từng được biết đến là yếu tố chính giúp con người phát triển từ thời cổ đại thành người hiện đại.
Thính giác không đơn giản chỉ là cơ quan tai, phần chính của thính giác nằm tại não vỏ não, được gọi là “não thính giác”. Thành phần tai gồm có tai ngoài, tai giữa, tai trong, thần kinh thính giác có vai trò như một cơ quan ngoại vi giúp thu nhận, chuyển đổi và dẫn truyền thông tin về âm thanh lên trung khu thính giác. Khiếm thính là tình trạng bệnh ở người hoặc động vật có thính giác kém, suy giảm trong khi các cá thể khác có thể nghe được âm thanh một cách dễ dàng. Ngoài ra Tiếng Việt còn sử dụng các từ như “điếc”,”nghe kém”, “mất thính lực”, “lãng tai”.
để diễn tả tình trạng bệnh này. Như vậy khiếm thính nói chung chỉ sự khiếm khuyết ở cơ quan thính giác từ tai cho đến não bộ khiến cho việc nhận biết âm thanh bị kém đi.2 Ảnh hưởng của bệnh khiếm thính lên bệnh nhân, gia đình và xã hội Đến nay vẫn chưa có một thống kê đầy đủ nào của các tổ chức, cá nhân nào đó về ảnh hưởng của khiếm thính lên cá nhân người bệnh, gia đình và xã hội. Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu, đánh giá đều cho thấy việc khó khăn trong tiếp nhận âm thanh là cản trở lớn đối với sự phát triển, chất lượng cuộc sống của những cá nhân mắc phải. Đặc biệt đối với trẻ em bị khiếm thính bẩm sinh hoặc khiếm thính từ rất sớm trong giai đoạn phát triển hình thành tư duy của não bộ, việc không nghe được có thể dẫn đến việc trẻ không thể học nói được và không thể học kiến thức văn hóa được.
Trẻ chỉ còn con đường học thông qua ngôn ngữ ký hiệu, qua mắt là 4 những phương thức khó khăn và không được sử dụng rộng rãi trong xã hội. Kết quả từ sự thiệt thòi trên là một cá nhân phát triển không toàn diện, năng suất lao động kém và bị hạn chế trong các cơ hội của cuộc sống, sự nghiệp.3 Vai trò của thính giác với sự phát triển của trẻ Trẻ em học ngôn ngữ từ trong bụng mẹ, ngay từ lúc lọt lòng bé đã giao tiếp với mẹ thông qua các âm thanh mẹ nựng, ru, xi tè… bằng cách lắng nghe lâu dài não bộ trẻ hình thành nên vùng thính giác ở vỏ não. Giai đoạn phát triển ngôn ngữ bùng nổ ở trẻ từ 1-3 tuổi sau thời gian này sự phát triển ngôn ngữ giảm dần và giảm đáng kể ở trẻ sau 6 tuổi. Phần lớn trẻ học thông qua nghe lỏm, nghe đoạn hội thoại của người lớn và bắt chước lại.
Nếu thính giác kém thì đương nhiên ngôn ngữ sẽ kém phát triển. Vai trò của thính giác điện tử trong việc giúp trẻ em hòa nhập với cộng đồng Trẻ em nếu được can thiệp máy trợ thính, cấy ghép ốc tai điện tử sớm sẽ có cơ hội phát triển ngôn ngữ gần như trẻ bình thường. Trong nghiên cứu của May-Mederake trên 63 trẻ được cấy ốc tai sớm trước 02 tuổi (tuổi cấy trung bình là 14.8 tháng tuổi) dựa trên Điểm vấn đáp ngôn ngữ trong sách littleEARS, cho ra kết quả như sau: 35 30 25 Điểm vấn 20 đáp ngôn ngữ 15 10 5 0 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 24 Tuổi nghe Hình 1.1: Biểu đồ thống kê mức độ phát triển ngôn ngữ ở trẻ. Màu xanh là biểu đồ của trẻ bình thường.
Màu đỏ là biểu đồ của trẻ 5 1.4 Cấu trúc giải phẫu của tai Tai là bộ máy nghe đồng thời là bộ máy thăng bằng. Vì thế cấu tạo của tai rất đặc biệt, làm sao cho hai chức năng đó phối hợp thực hiện mà không ảnh hưởng tới nhau. Đặc điểm giải phẫu và tổ chức học Hình 1.2: Cấu tạo của tai người 1.1 Tai ngoài Tai ngoài có loa tai và ống tai ngoài. Loa tai ở người có những nếp lồi lõm, có tác dụng thu nhận âm thanh từ mọi phía mà không cần xoay như một số động vật.
Ống tai ngoài hơi cong xuống dưới và ra sau. Cấu trúc này có tác dụng bảo vệ tai nhưng hơi khó cho thầy thuốc khi khám tai. Ống tai ngoài có lông và tuyến nhầy (ráy tai), phần da che phủ sụn ống tai dính chặt vào sụn và xương nên rất nhạy cảm, có mụn nhọt hay dụng cụ vào là rất đau. Giới hạn bên trong là màng nhĩ.
Màng nhĩ 6 cấu tạo bởi 4 lớp: lớp da liên kết với ống tai ngoài, 2 lớp sợi hình tia và hình vòng bên, trong là niêm mạc, có cán búa áp phía trên, có cơ căng màng nhỉ bám vào cán búa. Nhìn từ ngoài vào thấy màng nhỉ có màu hồng sáng và bóng. Nếu bên trong có mủ thì màng sẽ mất bóng và đục, có thể rạch màng nhỉ để thăm dò hoặc tháo mủ ra.2 Tai giữa Tai giữa gồm có hòm nhỉ nằm trong phần đá của xương thái dương, có dung tích1/2ml, trong đó có 3 xương con: xương búa, xương đe và xương bàn đạp. Thành trước có vòi eustache (vòi nhỉ) thông với hầu, bình thường vòi này đóng, chỉ mở ra để cân bằng áp lực khi nuốt hoặc ngáp.
Vì nó thông với hầu nên vi trùng ở hầu có thể đi lên để làm viêm tai giữa, có thể làm thủng màng nhỉ và chảy mủ tai. Tai giữa còn thông với các xoang chủm, có thể gây viêm tai xương chủm. Bên trong là cửa sổ tròn (cửa sổ tiền đình) liên hệ với tiền đình tai trong. Nền của xương bàn đạp đậy lên cửa sổ tiền đình.3 Tai trong Tai trong có cơ quan thinh giác và bộ máy thăng bằng gồm có mê đạo xương và mê đạo màng.
Mê đạo xương chứa ngoại dịch còn mê đạo màng chứa nội dịch, nằm trong phần đá của xương thái dương. Cấu tạo của mê đạo (mê lộ) gồm 2 phần: Tiền đình và ống khuyên.4 Tiền đình Được cấu tạo bởi 2 túi: Túi xoang và túi cầu (xoang nang và cầu nang). Túi xoang liên hệ với tai giữa bằng cửa sổ bầu dục, túi cầu liên hệ bằng cửa sổ tròn, phía phải liên hệ với các ống bán khuyên, phía trái liên hệ với ốc tai, thành bên còn có lỗ để cho dây thần kinh tiền đình và ốc tai đi vào não. Trong tiền đình có một lớp màng gọi là tiền đình màng, lớp này có những đầu mút thần kinh tiền đình gọi là điểm thần kinh cảm giác về áp suất trong tiền đình, ở túi nang có điểm macula utriculi, còn ở túi cầu có điểm macula sacculi.
Trong tiền đình chứa một chất gọi là nội dịch, dịch này gần giống dịch nội bào, nhiều kali nhưng it protein hơn.5 Các ống bán khuyên Có 3 ống bán khuyên sắp xếp theo 3 chiều khác nhau trong không gian, đường kính mỗi ống chừng 2-4m, mỗi ống có một đầu phình. Các ống chụm lại với nhau và thông với tiền đình. Trong ống có lót một lớp màng gọi là màng bán khuyên, ở chổ phình mỗi ống có các đầu mút của thần kinh tiền đình có chức năng tiếp nhận thay đổi áp suất trong các ống này, chúng được gọi là mào bóng (mào thính giác: crista ampularis) trong các ống này cũng chứa nội dịch như trong tiền đình và thông với tiền đình.6 Ốc tai Ốc tai nằm trong mê đạo xương, có ống ốc tai đó là một ống dài 32mm, xoắn hìnhtrôn ốc 2 vòng rưỡi nằm trong ốc tai. Ốc tai được chia làm 3 phần nhỏ có 2 màng chạy suốt từ đầu đến cuối ốc tai.
Đó là vịnh tiền đình ở phía trên bên phải, vịnh màng nhỉ ở dưới và vịnh ốc tai hay vịn trung tâm trong ốc tai. Vịnh tiền đình liên hệ vối cửa sổ bầu dục còn vịnh màng nhỉ liên hệ với cửa sổ tròn. Vịnh ốc tai có cơ quan Corti, đó là bộ máy thính giác. Trong ống này có chứa nội dịch và thông với tiền đình cũng như các ống bán khuyên.
Cơ quan Corti gồm có những tế bào Corti, đường hầm và màng phủ Corti. Tế bào Corti đó là những tế bào có lông là những thụ thể thính giác, được chia thành 4 lớp: 3 lớp ngoài có khoảng 20.000 tế bào dựa vào thành bên của đường hầm Corti, lớp trong có 3.500 tế bào nằm bên kia đường hầm. Trên đầu tế bào này có lông, xuyên qua tấm lưới đượ bao phủ bởi màng phủ. Đuôi của những tế bào Corti là những sợi thần kinh sẽ tạo thành thần kinh ốc tai (thính giác ).
Đường hầm Corti là những tế bào trụ tròn xếp thành hai dãy chụm đầu vào nhau tạo thành đường hầm chạy suốt từ đầu đến cuối ố tai. Màng phủ Corti là một màng mỏng, đàn hồi, nằm trên đầu những tế bào lớp ngoài của tế bào Corti, ôm lấy những tế bào này. Màng đáy là những vách ngăn giữa vịnh nhĩ và vịnh trung tâm trong ốc tai, vịn tiền đình có 2 phần: Phần xương ở phía vịnh tiền đình và phần màng ở phía vịnh trung tâm trong ốc tai. Màng này gồm những sợi liên kết chạy ngang tạo thành 1 8 vách ngăn giữa vịnh màng nhỉ và vịnh trung tâm.
Đặc điểm màng này có thể cho ngoại dịch trong vịnh màng nhĩ thấm qua. Vì vậy đường hầm Corti và đáy những tế bào có lông của corti đều ngâm mình trong ngoại dịch. Trong lúc đó, những lông của tế bào Corti lại ngâm mình trong nội dịch. Đó là một điểm cần chú ý vì thành phần trong nội dịch tương tự như dịch nội tế bào (chứa nhiều kali hơn nhưng ít protein hơn nội dịch tế bào).
Ngoại dịch có thành phần gần giống dịch não tuỷ (có nhiều natri) nhưng lại có nhiều protein hơn dịch não tuỷ. Có lẽ sự chênh lệch thành phần giữa dịch nội bào và ngoại bào đóng vai trò trong hoạt động điện khi có kích thích của những sóng âm ở nội dịch và ngoại dịch, trong lúc đó, màng đáy và màng phủ đều rung chuyển mỗi khi có thay đổi áp suất do sóng âm gây nên. Các đường dẫn truyền thần kinh thị giác và thăng bằng 1.