Đặt vấn đề Dân số ngày càng phát triển do đó nguồn cung cấp các sản phẩm chăn nuôi từ trang trại lớn ngày càng tăng để đảm bảo đáp ứng nguồn thực phẩm cho con người. Đồng thời với việc tăng sản phẩm chăn nuôi thì lượng chất thải phát sinh ngày càng tăng. Theo Hussain et al, (2002) tại một số nước phát triển và nước đang phát triển đã sử dụng nước thải chăn nuôi chưa xử lý hoặc đã xử lý sơ bộ để tưới tiêu cho nông nghiệp. Ngoài các lợi ích về mặt dinh dưỡng sẵn có trong nguồn nước thải không tốn chi phí mua phân bón hóa học mà năng suất cao, tuy nhiên còn có các tác động tiêu cực như: mất cân bằng dinh dưỡng gây phú dưỡng hóa các nguồn nước mặt vùng lân cận, ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe động vật, gây mùi khó chịu cho cộng đồng.
Khi nguồn dinh dưỡng có trong nước tưới tiêu vượt quá nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng sẽ dẫn đến mất cân bằng dinh dưỡng. Lượng N có trong nước tưới tiêu vượt quá liều lượng N cần thiết để cho năng suất tương ứng, N dư có thể tích tụ trong quá trình phát triển của thực vật, kìm hãm sự trưởng thành và trong một số trường hợp N vượt quá mức cần thiết làm mất năng suất cây trồng. Hầu hết nước thải chăn nuôi sau bể biogas chưa đạt QCVN, theo Hồng, (2012), nồng độ các thành phần trong nước thải chăn nuôi heo sau bể biogas NH4+ - N từ 106 đến 421 mg/L, TKN từ 335 đến 712 mg/L. Mặc dù các thành phần chất thải đã được xử lý và được sử dụng làm phân bón hữu cơ để tưới tiêu cho mục đích nông nghiệp nhưng vẫn phát sinh các vấn đề gây ô nhiễm môi trường.
Các công nghệ hiện tại như: sử dụng thực vật nổi thủy sinh để xử lý nước thải trong hệ thống đất ngập nước, hiệu quả xử lý TKN 84 – 88%, NH4+ - N 94,9 – 99,9 % [6] nhưng nhược điểm thực vật thủy sinh không sống được ở điều kiện khí hậu lạnh, cần diện tích rộng và thời gian xử lý lâu; theo Pizarro et al, (2006) [3] tổng hợp số liệu từ các trang trại nuôi bò tại Maryland (USA) sử dụng công nghệ ATS (Algal turf scrubber) xử lý nước thải chăn nuôi đã được xử lý kị khí, hiệu quả xử lý cao và đem lại nguồn 2 lợi từ sinh khối tảo thu được nhưng công nghệ ATS tốn chi phí đầu tư ban đầu, phải thu hoạch tảo định kỳ và công nghệ ATS chiếm diện tích lớn. Hiện nay một số nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ nitrite hóa bán phần – Anammox để xử lý nguồn nước thải có nồng độ nitrogen cao, hiệu quả xử lý nitrogen đạt 70% [4], 73% [5]. Các công nghệ ứng dụng nitrite hóa bán phần – Anammox: SHARON, OLAND, SNAP, CANON…, quá trình SHARON – Anammox cần 2 bể phản ứng riêng biệt, quá trình OLAND, và SNAP cần sử dụng 1 bể phản ứng kết hợp với giá thể, quá trình CANON vi sinh sinh trưởng lơ lửng [6], chi phí đầu tư và vận hành thấp do nhu cầu cấp khí thấp, không cần nguồn carbon hữu cơ, chỉ cần 1 công trình, lượng bùn sinh ra thấp. Trước những ảnh hưởng của mất cân bằng dinh dưỡng do việc sử dụng chất thải chăn nuôi chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt QCVN 62-MT:2016/BTNMT đối với nước thải chăn nuôi, tổng lượng N cho phép cột B 150 mg/L, em tham gia thực hiện đề tài: “Ứng dụng quá trình CANON để xử lý nitơ (N) nước thải chăn nuôi sau bể biogas” nhằm đánh giá hiệu quả xử lý N, giảm thiểu ảnh hưởng của các thành phần N đối với môi trường đất, nước mặt, nước ngầm, thực vật… 1.
Mục ti u nghi n cứu Ứng dụng quá trình CANON (kết hợp nitrite hóa bán phần và Anammox) để xử lý nitơ đạt Quy chuẩn xả thải Việt Nam với TN ≤ 150 mg/L. Nội dung nghiên cứu Qua 9 tháng nghiên cứu vận hành mô hình CANON, nhóm nghiên cứu đã thực hiện các nội dung: (i) Thí nghiệm 1 làm giàu sinh khối vi khuẩn AOB và Anammox trong mô hình CANON sử dụng nước thải nhân tạo với tải trọng nitơ 0,2 kgN/m3.ngày; (ii) Thí nghiệm 2: vận hành mô hình với nước thải chăn nuôi gia súc đã xử lý kị khí, đánh giá hiệu quả khử nitrogen ở tải trọng khác nhau; (iii) Thí nghiệm 3: đánh giá hoạt tính của bùn Anammox, AOB, NOB giai đoạn vận hành nước thải chăn nuôi gia súc. Đ i tƣ ng nghi n cứu Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình có thể tích hiệu dụng 32.4L để thực hiện thí nghiệm với nước thải chăn nuôi gia súc từ trang trại chăn nuôi heo, bò của gia đình ông Trần Quang Lương (13 Trương Thị Kiện, xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi). Phƣơng pháp nghiên cứu Trước khi thực hiện nghiên cứu quy mô phòng thí nghiệm ứng dụng quá trình CANON, em nghiên cứu các tài liệu về quá trình nitrite hóa bán phần, quá trình Anammox.
Tham khảo, tìm hiểu các nghiên cứu đã được thực hiện ứng dụng quá trình CANON từ các bài báo đã được công bố. Tìm hiểu các cơ chế xảy ra trong quá trình CANON, tham khảo các tài liệu về cách vận hành, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình. Phương pháp thực nghiệm mô hình, nghiên cứu trên mô hình thí nghiệm 1: làm giàu bùn AOB và Anammox với nước giả thải; Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng khử nitơ ở các tải trọng 0.ngày; thí nghiệm 3: thí nghiệm hoạt tính bùn Anammox, AOB và NOB. Phương pháp lấy mẫu và phân tích, đánh giá các số liệu thực nghiệm của thí nghiệm 1 giai đoạn làm giàu bùn hàng ngày theo dõi các chỉ tiêu NH4+ -N, NO2- -N, NO3- -N, độ kiềm, pH; hàng tuần theo dõi chỉ tiêu VSS; Thí nghiệm 2: Giai đoạn vận hành nước thải chăn nuôi gia súc thực hiện giám sát các chỉ tiêu NH4+-N, NO2-- N, NO3- -N, độ kiềm, pH; hàng tuần theo dõi các chỉ tiêu SS, VSS, COD, TKN.
Thí nghiệm 3 thực hiện ở mỗi tải trọng, mỗi lần thí nghiệm phân tích các chỉ tiêu NH4+- N, NO2--N, NO3- -N, lấy mẫu với tần suất 30 phút, lấy mẫu liên tục từ 3 – 5h. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu thực hiện theo các quy định của tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn quốc tế (Standard Methods). Các số liệu kết quả thí nghiệm được nhập vào phần mềm excel hàng ngày và xử lý dữ liệu trên ứng dụng này. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu thể hiện khả năng xử lý nitrogen ở tải trọng cao khi ứng dụng quá trình CANON trong xử lý nước thải chăn nuôi gia súc. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu cho thấy tính khả thi trong ứng dụng quá trình CANON xử lý nước thải chăn nuôi gia súc với hiệu quả cao và chi phí vận hành thấp (tiết kiệm năng lượng và hóa chất). Giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường: hạn chế hiện tượng phú dưỡng hóa, giảm thiểu ô nhiễm đất, nước ngầm, không khí, giảm chi phí xử lý bùn so với các quá trình khác. Tính mới của đề tài Ứng dụng quá trình CANON trong đó kết hợp nitrite hóa bán phần và anammox sử dụng bùn hạt để xử lý nước thải chăn nuôi gia súc sau biogas với chế độ vận hành liên tục.
Trong bể phản ứng vừa duy trì vi khuẩn oxi hóa ammonia hiếu khí vừa duy trì vi khuẩn oxi hóa ammonia kị khí để xử lý nitơ. Quá trình nitrite hóa bán phần diễn ra trong ngăn sục khí, vi khuẩn anammox vừa sinh trưởng lơ lửng trong ngăn sục khí, vừa sinh trưởng trong điều kiện thiếu khí ở ngăn lắng. Quá trình CANON tiết kiệm 63% oxygen và 100% nguồn carbon so với các quá trình nitrite hóa – khử nitrite truyền thống. Giảm phát thải CO2 (quá trình tiêu thụ CO2), giảm nhu cầu sử dụng năng lượng để sục khí [7].
Lượng bùn sinh ra thấp [8]. 5 CHƢƠNG TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nƣớc thải chăn nuôi Qua tham khảo các tài liệu thành phần nitơ trong nước thải trang trại chăn nuôi sau xử lý kị khí vẫn khá cao thể hiện trong Bảng 1.1 Lượng nitơ trong nước thải trang trại/ hộ chăn nuôi Nƣớc thải sau biogas TN (g/m3) pH Nguồn Các hộ chăn nuôi heo tại thành phố Huế 335 - 712 [2] Chăn nuôi bò sữa tại USA 257 [7] Chăn nuôi heo tại Pháp 4400 [8] Trang trại bò sữa tại New Zealand 350 - 662 8.6 [9] Như vậy nồng độ nitơ còn lại sau xử lý kị khí cao nên để phù hợp với quy định của Việt Nam, cần phải xử lý nước thải chăn nuôi gia súc sau biogas đạt quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT đối với nước thải chăn nuôi. Công nghệ xử lý nƣớc thải chăn nuôi Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn để xử lý nitơ trong nước thải sau biogas.
Theo Vázquez-Padín et al, (2009) [4] đã ứng dụng quá trình Sharon – Anammox để xử lý nước thải cá đóng hộp sau tiền xử lý phân hủy kị khí. Hiệu suất loại bỏ N đạt 70% (0,34 – 0,67 gN/L.ngày), DO được duy trì trong khoảng 0.2 đến 1 mgO2/L; Yamamoto et al, (2008) đã ứng dụng nitrite hóa bán phần và Anammox để xử lý nước thải chăn nuôi heo sau xử lý kị khí, hiệu quả xử lý đạt 73% (0,49 kgN/m3.ngày), DO được duy trì 5 mgO2/L. Tuy nhiên hai ứng dụng trên cần có 2 công trình đơn vị, một công trình thực hiện nitrite hóa bán phần, công trình còn lại oxi hóa ammoni kị khí. Như vậy vẫn phải tốn chi phí năng lượng để cấp khí và chưa giảm được diện tích cần thiết.
Theo Figueroa et al, (2011) [10] ứng dụng bùn hạt hiếu khí để xử lý dung dịch phân lỏng từ chăn nuôi heo cho thấy hiệu quả xử lý N cao. Với tải trọng xử lý nitơ đạt được 0.ngày tuy nhiên tốn kém chi phí cấp khí thường xuyên, DO duy trì 3 mgO2/L. Jetten et al, (2002) [11] đã thực hiện so sánh định tính một số công nghệ ứng dụng nitrite hóa bán phần và quá trình Anammox như trong Bảng 1.