CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG MÔ HÌNH KINH TẾ XANH TẠI XÃ ĐẢO 1. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ XANH 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới: Hiện nay, liên quan đến lĩnh vực này, các nghiên cứu trên thế giới tập trung vào các vấn đề sau: Chính phủ các nước trên thế giới đang phải đối mặt với những thách thức ngày càng tăng về đảm bảo phát triển kinh tế cân bằng với vấn đề môi trường, an sinh xã hội.
Việc phát triển kinh tế xanh là một nhiệm vụ ngày càng trở nên cần thiết và được các quốc gia đặc biệt quan tâm khi đứng trước những thách thức này. Có thể nói rằng khái niệm về tăng trưởng xanh bắt đầu với sự ra đời của phát triển bền vững. Năm 1972 cuốn sách “Những giới hạn cho sự tăng trưởng” xuất bản bởi Câu lạc bộ Rome (Rome Club) cho biết thế giới sẽ phải đối mặt với những hạn chế về sự tăng trưởng trong vòng một thế kỷ. Kết quả là nhận thức về ô nhiễm môi trường và sự chú ý đến việc phát triển bền vững bắt đầu lan rộng trên toàn thế giới.
Khái niệm phát triển bền vững về bảo vệ môi trường lần đầu tiên được giới thiệu bởi Liên minh Bảo Tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN). Năm 1987, báo cáo Brundtland định nghĩa rằng: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” (NGO, 2016). Ngoài ra, Tuyên bố RIO đã được công bố năm 1992 trong Hội nghị về Môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc nhấn mạnh về việc bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế không nên bị tách rời trong quá trình phát triển bền vững. Hội nghị thượng Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 đỉnh thế giới về phát triển bền vững, được gọi là Rio + 10, tổ chức tại Johannesburg, Nam Phi (2002), đã đánh giá những thành tựu của Chương trình Nghị sự 21 và thảo luận về mục tiêu trong tương lai cũng như kế hoạch hành động cụ thể.
Khái niệm phát triển bền vững đã được thảo luận trong một thời gian dài, bao gồm ba hệ thống kết nối với nhau: phát triển bền vững môi trường, phát triển bền vững xã hội và phát triển bền vững kinh tế. Những ý tưởng này dần được đưa vào thực tiễn bởi nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới. Thuật ngữ “Tăng trưởng xanh” lần đầu tiên được đưa ra năm 2000 trên tạp chí Economist. Sau đó, nó dần được cộng đồng quốc tế thảo luận một cách nghiêm túc, bắt đầu từ Hội nghị lần thứ năm của các Bộ trưởng Môi trường và phát triển khu vực châu Á Thái Bình Dương, năm 2005, được tài trợ bởi Ủy ban Kinh tế - Xã hội Châu Á của Liên Hợp Quốc (ESCAP).
Sau đó, rất nhiều định nghĩa về “Kinh tế xanh” đã được các tổ chức công bố: Tổ chức Định nghĩa Ủy ban Châu Âu, 2010 Kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng thông minh, bền vững và công bằng Green Economy Coalition, Nền kinh tế tạo ra chất lượng cuộc sống tốt hơn 2012 cho tất cả mọi người trong giới hạn sinh thái của trái đất UNDESA, 2012 Tổng hợp các định nghĩa của nhiều quốc gia và chỉ ra điểm chung mà một nền kinh tế xanh cần hướng tới là việc giảm các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế tới môi trường và xã hội. Ngân hàng thế giới, 2012 Tăng trưởng xanh là tăng trưởng hiệu quả trên khía cạnh sử dụng tài nguyên sạch, tức là giảm thiểu ô nhiễm và suy thoái môi trường, chống chọi với thiên tai và sử dụng quản lý môi trường để ngăn ngừa các thảm họa khác. Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 OECD, 2011 “Tăng trưởng xanh” là phấn đấu tăng trưởng và phát triển kinh tế, đồng thời ngăn chặn suy thoái môi trường, suy giảm đa dạng sinh học và sử dụng không bền vững tài nguyên thiên nhiên. “Tăng trưởng xanh” là tách biệt tác động của hoạt động kinh doanh với tác động của hoạt động môi trường, đồng thời phấn đấu đầu tư cho môi trường trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế.
UNEP Một nền kinh tế xanh được định nghĩa là các-bon thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và toàn diện về mặt xã hội. Trong một nền kinh tế xanh, tăng trưởng việc làm và thu nhập được thúc đẩy bởi đầu tư công và tư nhân vào các hoạt động kinh tế, cơ sở hạ tầng và tài sản cho phép giảm lượng khí thải carbon và ô nhiễm, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng lượng, đồng thời ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái. Tình hình nghiên cứu trong nước Kinh tế xanh - con đường phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang trở thành mô hình phát triển tiên tiến, được nhiều nước trên thế giới hướng tới và coi đây là một trong những giải pháp giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng suy thoái hiện nay (Trương Quang Học và Hoàng Văn Thắng, 2013). Kinh tế xanh là một hướng phát triển bền vững trong bối cảnh biển đổi khí hậu (Nguyễn Danh Sơn và nnk, 2019).
Bên cạnh những khó khăn thách thức nhất định, chúng ta cũng có nhiều cơ hội thuận lợi để thực hiện chiến lược và hội nhập với nền kinh tế xanh của thế giới. Việt Nam đang hội tụ những điều kiện thuận lợi như điều kiện tự nhiên, xã hội đến chủ trương, chính sách. Với lợi thế nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào, năng lượng gió phong phú, sinh vật tăng trưởng nhanh (Nguyễn Tuấn Hùng, 2013). Nhằm chuyển đổi mô hình kinh tế từ “kinh tế nâu” sang “kinh tế Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 xanh” hướng tới phát triển bền vững, trong đó lấy tăng trưởng xanh là trọng tâm thực hiện, nhằm giảm thiểu phát thải cacbon, duy trì vốn tự nhiên, phục hồi và duy trì hệ sinh thái, tăng phúc lợi, thích ứng với biến đổi khí hậu (Nguyễn Thế Chinh, 2011).
Việt Nam đã ban hành Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh từ năm 2012, và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020, đây là căn cứ để các Bộ ngành triển khai kế hoạch hành động của mình (Thủ tướng Chính phủ, 2010). Tăng trưởng xanh ở Việt Nam là một phương thức thúc đẩy quá trình thay đổi các mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, nhằm khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu quả kinh tế, nhằm sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, ứng phó biến đổi khí hậu, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững (Trương Quang Học, 2015; Nguyễn Văn Hậu, 2015). Trong định hướng “phát triển xanh lam” ở biển và đại dương có một số hướng mang tính chủ đạo được quốc tế khuyến cáo như: bảo vệ và phục hồi các hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển, phát triển thị trường cacbon, tăng cường quản lý đáy biển, thay đổi phương thức quản lý nghề cá và nuôi trồng hải sản ở các cấp trong khu vực và quốc gia; đồng thời bình đẳng, không bao cấp và khai thác bền vững, thích ứng với quá trình dâng cao mực nước biển và biến đổi khí hậu. Hiện nay, các ngành và các địa phương trên cả nước đang triển khai thực hiện Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 (2007), Luật Biển Việt Nam (2012), Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh, trong đó có lĩnh vực kinh tế biển.
Theo đó, sáu lĩnh vực kinh tế biển được Nhà nước tập trung phát triển theo Điều 43 Luật Biển Việt Nam (Quốc hội Việt Nam, 2012), cần được ưu tiên đầu tư phát triển theo hướng “xanh hóa” là: (i) Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; (ii) Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; (iii) Du lịch biển và kinh tế đảo; Khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản; (v) Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; (vi) Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển. Tăng trưởng xanh lam đều nhằm phát triển bền vững và bảo toàn vốn tự nhiên biển, đảo, trong đó có các xã đảo (Nguyễn Chu Hồi, 2015b). Một số yêu cầu và cách tiếp cận phát triển kinh tế biển xanh ở Việt Nam phải quán triệt bốn yêu cầu cơ bản là phát triển một nền kinh tế biển hiệu quả và bền Downloaded by vu quang (vuchinhhp20@gmail.com) lOMoARcPSD|21911340 vững; khoa học và công nghệ phải trở thành động lực phát triển các lĩnh vực có liên quan đến kinh tế biển xanh; Quy hoạch và quản lý liên ngành, liên vùng đối với các vùng biển, đảo và vùng ven biển để đảm bảo tính liên kết trong phát triển kinh tế biển ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phát triển; duy trì môi trường hòa bình trên biển Đông tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế biển (Nguyễn Chu Hồi, 2014). Các định hướng phát triển kinh tế biển, đảo phải đẩy mạnh các hoạt động điều tra cơ bản, xây dựng kết cấu hạ tầng gắn với phát triển du lịch, quản lý tổng hợp vùng bờ biển, xây dựng và triển khai phương án, phân chia ranh giới biển cho cấp tỉnh, và giao mặt biển cho cộng đồng sử dụng và tự quản lý dưới sự giám sát của Nhà nước (Nguyễn Chu Hồi, 2015a).
Mô hình kinh tế xanh ở các đảo là mô hình kinh tế hiện đại và được tổ chức trong một không gian thống nhất. Mục tiêu chung của quản lý không gian đảo và các xã đảo là tối ưu hóa lợi ích kinh tế, xã hội và chủ quyền thu được từ các đảo và quần đảo. Đặc biệt là phải tập trung nâng cao giá trị sử dụng đảo và quần đảo bằng cách hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông - vận tải; phát triển năng lượng và các lĩnh vực xã hội, văn hóa, sử dụng khoa học - công nghệ trong phục hồi, tái tạo và phát triển các nguồn tài nguyên tái tạo, các hệ sinh thái nhiệt đới đặc trưng, thích ứng với biến đổi khí hậu và môi trường. TỔNG QUAN VỀ MỘT SỐ MÔ HÌNH KINH TẾ ĐẢO XANH Có những mô hình có quy mô lớn như mô hình kinh tế xanh tại Hawaii (Mỹ) là mô hình một bang gồm nhiều đảo nhỏ, khu vực dễ bị tổn thương trước các vấn đề về môi trường.