Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu các nguồn thu từ người sử dụng đường bộ ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Văn Dũng dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Xuân Lan, bảo vệ tại Trường Đại học Giao thông Vận tải năm 2011 thuộc chuyên ngành Tổ chức và quản lý vận tải (mã ngành 62.01).
Văn bản luận án xác định kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ là bộ phận cốt lõi của kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, giữ vai trò động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư xây dựng mới và bảo trì mạng lưới đường bộ đòi hỏi nguồn vốn rất lớn trong khi khả năng thu hồi vốn khó khăn hoặc thời gian thu hồi kéo dài. Thực trạng tại Việt Nam cho thấy nguồn ngân sách nhà nước cấp cho công tác bảo trì đường bộ luôn thiếu hụt nghiêm trọng, chỉ đáp ứng được khoảng 40% đến 50% nhu cầu đối với hệ thống quốc lộ và khoảng 20% đến 30% nhu cầu đối với hệ thống đường địa phương. Do thiếu kinh phí, cơ quan quản lý mới chỉ tập trung xử lý các hạng mục cấp bách mà chưa thực hiện đầy đủ quy trình bảo dưỡng thường xuyên và sửa chữa định kỳ.
Sự gia tăng nhanh chóng của lưu lượng phương tiện vượt xa mức dự báo đã khiến nhiều tuyến đường xuống cấp, gây lãng phí tài sản quốc gia. Luận án trích dẫn khuyến cáo từ Liên đoàn Đường bộ Quốc tế nhằm khẳng định tính kinh tế của việc bảo trì: nếu chi thiếu 1 USD cho công tác bảo trì sẽ phải tốn 4 USD cho công tác phục hồi hoặc xây dựng lại công trình; ngược lại, việc đầu tư 1 USD cho công tác bảo trì cầu đường bảo đảm tiêu chuẩn an toàn sẽ giúp tiết kiệm 3 USD chi phí khai thác vận tải thông qua việc giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm hao mòn phương tiện, nâng cao năng suất vận chuyển và rút ngắn thời gian lưu thông.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mạng lưới giao thông đường bộ được nhìn nhận là hàng hóa công cộng không thuần túy theo nguyên tắc người sử dụng nhiều đóng góp nhiều, người sử dụng ít đóng góp ít. Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và xác lập phương pháp xác định các nguồn thu khoa học, công bằng từ người sử dụng đường bộ tại Việt Nam là đòi hỏi cấp thiết cả về mặt lý luận kinh tế lẫn thực tiễn quản lý kết cấu hạ tầng.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án được văn bản công bố bao gồm:
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế về các nguồn thu từ người sử dụng đường bộ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế huy động và quản lý các nguồn thu từ người sử dụng đường bộ tại Việt Nam.
- Xác định hệ thống các nguồn thu và đề xuất cơ chế thu từ người sử dụng đường bộ ở Việt Nam nhằm tạo lập nguồn vốn bền vững cho hoạt động xây dựng và bảo trì hệ thống giao thông đường bộ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các nguồn thu trực tiếp và gián tiếp từ các tổ chức, cá nhân sử dụng các loại hình tuyến đường gồm đường cao tốc, đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện và đường đô thị.
- Phạm vi nghiên cứu: Cơ sở lý luận kinh tế học công cộng và thực tiễn cơ chế thu từ các tổ chức, cá nhân sử dụng mạng lưới giao thông đường bộ trên lãnh thổ Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và phân loại tiến trình phát triển của các nghiên cứu về nguồn thu từ người sử dụng đường bộ thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn thứ nhất: Tập trung nghiên cứu mức thu phí trên các tuyến đường cao tốc hoặc các tuyến đường có chất lượng khai thác cao. Bắt đầu từ thực tiễn thu phí tại Hoa Kỳ do nhà nước hoặc tư nhân đầu tư, sau đó mở rộng sang các nước Tây Âu, Nhật Bản và các nền kinh tế phát triển. Nguyên tắc định giá cốt lõi của giai đoạn này là mức phí được xác định bằng chi phí biên sản xuất.
- Giai đoạn thứ hai: Tập trung nghiên cứu các nguồn thu bổ sung đối với người sử dụng đường bộ. Khi mạng lưới đường cao tốc chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng chiều dài mạng lưới đường quốc gia, nguồn tài chính thiếu hụt khiến toàn bộ hệ thống đường xuống cấp. Các nhà khoa học đã xây dựng hệ thống nguồn thu bổ sung, trọng tâm là thuế nhiên liệu theo nguyên tắc dùng nhiều trả nhiều, kết hợp với các sắc phí như phí trọng tải xe, phí tải trọng trục, phí lưu hành, thuế đăng ký phương tiện với mức thu điều chỉnh theo chi phí biên.
- Giai đoạn thứ ba: Mở rộng nghiên cứu sang các nguồn thu điều tiết ngoại ứng tiêu cực và thu hồi lợi ích ngoại ứng tích cực do tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số và đô thị hóa. Các nhà nghiên cứu đề xuất ba loại thuế, phí đặc thù: thuế chống ùn tắc giao thông, thuế ô nhiễm môi trường và phí bù đắp chi phí tai nạn giao thông; đồng thời nghiên cứu cơ chế đánh thuế hoặc thu tiền sử dụng đất đối với các cá nhân, tổ chức gián tiếp hưởng lợi từ sự gia tăng giá trị bất động sản dọc theo các hành lang tuyến đường được đầu tư.
Từ bức tranh tổng quan quốc tế, tác giả đúc kết 3 vấn đề học thuật lớn vẫn đang tồn tại tranh luận:
- Phương pháp phân bổ chi phí và mức thu một cách thỏa đáng cho từng loại phương tiện vận tải có đặc tính kỹ thuật và tải trọng khác nhau.
- Phương thức đo lường và thu hồi lợi ích từ mạng lưới đường bộ mang lại cho những đối tượng gián tiếp sử dụng đường bộ, đặc biệt tại các quốc gia có cơ chế đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu.
- Nghiên cứu và áp dụng các công nghệ thu phí hiện đại trên mạng lưới đường bộ nhằm bảo đảm tính tiết kiệm, hiệu quả, công bằng và thuận tiện cho người tham gia giao thông.
Đối với các nghiên cứu trong nước, tác giả thống kê danh mục đề tài khoa học tại Thư viện Quốc gia và chỉ rõ từ năm 2005 đến thời điểm thực hiện luận án (2011) chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện và toàn diện về hệ thống các nguồn thu từ người sử dụng đường bộ ở Việt Nam. Tác giả điểm lại các công trình liên quan trực tiếp đến lĩnh vực cung ứng và quản lý dịch vụ công giao thông:
- Luận án tiến sĩ kinh tế:
- "Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công cộng" (2006) của tác giả Đỗ Thị Hải Hà.
- "Nghiên cứu phương pháp tính trợ giá cho vận tải hành khách công cộng ở đô thị Việt Nam" (2006) của tác giả Nguyễn Thị Thực.
- "Hoàn thiện các phương pháp định giá sử dụng đường bộ và các giải pháp nhằm tăng cường nguồn thu từ người sử dụng đường bộ" (2006) của tác giả Đào Việt Phương.
- Đề tài nghiên cứu khoa học các cấp:
- "Định giá cơ sở hạ tầng giao thông vận tải trong nền kinh tế thị trường" (2000) của các tác giả Nguyễn Xuân Hoàn và Nguyễn Tường Vi.
- "Nghiên cứu các cơ chế chính sách huy động, sử dụng và quản lý vốn để phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải" - Đề tài cấp Nhà nước do Viện Chiến lược và Phát triển Giao thông Vận tải chủ trì thực hiện.
- "Quản lý nhà nước về sử dụng phí đường bộ ở Việt Nam" (2010) của PGS.TS. Lê Thị Anh Vân.
- Các hội thảo khoa học và báo cáo tổng kết quốc tế:
- Hội thảo "Thiết lập và quản lý quỹ bảo trì và phát triển đường bộ" do Ngân hàng Thế giới (WB) phối hợp Bộ Giao thông Vận tải tổ chức (tháng 5/2000).
- Báo cáo tổng kết của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) về quỹ bảo trì và phát triển đường bộ (tháng 7/2003).
- Báo cáo tổng kết của WB về quỹ bảo trì đường bộ ở một số nước (tháng 3/2004).
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về kinh tế công cộng cho lĩnh vực đường bộ, làm rõ bản chất hàng hóa công cộng không thuần túy của kết cấu hạ tầng giao thông, từ đó đề xuất hệ thống các nguồn thu mới có căn cứ khoa học, phân loại đối tượng nộp phí rõ ràng và xác lập cơ chế quản lý tài chính phù hợp với thể chế kinh tế của Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết kinh tế học khu vực công và kinh tế học vi mô để xây dựng khung phân tích cho đề tài:
- Lý thuyết khu vực công và chức năng can thiệp của chính phủ: Khu vực công là tổng thể các hoạt động do nhà nước đầu tư vốn, trực tiếp thực hiện hoặc có sự trợ giúp tài chính và quản lý của nhà nước nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ công thiết yếu. Luận án viện dẫn 4 chức năng kinh tế cơ bản của chính phủ gồm: phân bổ nguồn lực nâng cao hiệu quả kinh tế; phân phối lại thu nhập bảo đảm công bằng xã hội; ổn định kinh tế vĩ mô; đại diện quốc gia trên trường quốc tế.
- Lý thuyết tối ưu hóa Pareto: Được đặt theo tên nhà kinh tế học Vilfredo Pareto (1848-1923), sử dụng để đánh giá hiệu quả phân bổ nguồn lực. Trạng thái tối ưu Pareto đạt được khi không thể làm cho một người có lợi hơn mà không làm thiệt hại đến lợi ích của người khác. Để đạt tối ưu phúc lợi xã hội cần thỏa mãn 3 điều kiện: hiệu quả phân phối (tỷ suất thay thế biên giữa hai hàng hóa bất kỳ của mọi người tiêu dùng bằng nhau); hiệu quả sản xuất (tỷ suất thay thế kỹ thuật biên giữa hai yếu tố đầu vào của các doanh nghiệp bằng nhau); hiệu quả hỗn hợp (tỷ suất thay thế kỹ thuật biên giữa hai hàng hóa bằng tỷ suất thay thế biên của người tiêu dùng). Luận án phân tích giới hạn của tối ưu Pareto khi thị trường cạnh tranh gặp thất bại hoặc phân phối thu nhập bất bình đẳng.
- Lý thuyết ngoại ứng (Externalities):
- Ngoại ứng tích cực: Xuất hiện khi việc đầu tư tuyến đường tạo ra lợi ích cho bên thứ ba (làm gia tăng giá trị đất đai, giảm chi phí lưu kho dự trữ cho doanh nghiệp) mà không được phản ánh qua giá thị trường. Khung phân tích xác định: đường cầu $D$ thể hiện lợi ích biên tư nhân ($MB$), lợi ích ngoại ứng biên là $MEB$, dẫn đến lợi ích biên xã hội $MSB = MB + MEB$. Khi có ngoại ứng tích cực, sản lượng cân bằng thị trường $Q_E$ thấp hơn mức tối ưu xã hội $Q_E'$, gây ra phần mất mát phúc lợi xã hội (thể hiện qua diện tích tam giác $EE'F$). Chính phủ cần can thiệp thông qua trợ cấp hoặc dùng quyền lực thu hồi lợi ích ngoại ứng qua chính sách thuế, tiền sử dụng đất để tài trợ bảo trì đường sá.
- Ngoại ứng tiêu cực: Xuất hiện khi phương tiện cơ giới gây ô nhiễm môi trường, khí thải độc hại, tiếng ồn và tai nạn giao thông. Khi đó, chi phí biên tư nhân ($MPC$) nhỏ hơn chi phí biên xã hội ($MSC$), khoảng chênh lệch là chi phí ngoại ứng biên ($MEC$). Luận án viện dẫn lý thuyết thuế Pigou của nhà kinh tế Arthur Pigou: đánh thuế vào mỗi đơn vị sản phẩm đầu ra gây ô nhiễm đúng bằng chi phí ngoại ứng biên tại mức sản lượng tối ưu; hoặc áp dụng công cụ gián tiếp qua thuế nhiên liệu xăng dầu tiêu thụ và kiểm soát mức chuẩn phát thải kỹ thuật định kỳ.
- Lý thuyết hàng hóa công cộng (Public Goods): Phân loại dựa trên hai thuộc tính: tính không cạnh tranh trong tiêu dùng và tính không loại trừ trong tiêu dùng. Luận án phân định:
- Hàng hóa công cộng thuần túy: Thỏa mãn đầy đủ cả hai thuộc tính (ví dụ: hệ thống chiếu sáng đường phố).
- Hàng hóa công cộng không thuần túy: Chỉ thỏa mãn một trong hai thuộc tính, gồm hàng hóa công cộng ùn tắc (khi lưu lượng vượt quá điểm giới hạn $E$, chi phí biên $MC$ tăng dần làm giảm lợi ích người tham gia giao thông) và hàng hóa công cộng có thể loại trừ bằng giá (được quản lý thông qua các trạm thu phí).
- Hiện tượng "kẻ ăn không" (Free-rider): Xuất hiện khi cá nhân tìm cách hưởng thụ lợi ích từ hàng hóa công cộng mà không đóng góp chi phí, đòi hỏi chính phủ phải cưỡng chế đóng góp thông qua hệ thống thuế và phí.
- Phân nhóm người sử dụng đường bộ: Luận án chia thành 3 nhóm đối tượng:
- Người tham gia trực tiếp vào việc vận chuyển hàng hóa, hành khách hoặc sử dụng phương tiện để tự đi lại.
- Các tổ chức, cá nhân thuê kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc các mục đích khác.
- Các tổ chức, cá nhân được hưởng lợi gián tiếp do mạng lưới đường bộ mang lại (đặc biệt là giá trị bất động sản gia tăng).
Về phương pháp nghiên cứu thực tế, tác giả kết hợp các phương pháp tiếp cận:
- Phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp: Khảo cứu các mô hình tài chính đường bộ quốc tế, đối chiếu chính sách thu phí đường bộ qua các thời kỳ ở Việt Nam.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt các nguồn thu đường bộ trong tổng thể hệ thống kinh tế công và ngân sách nhà nước.
- Phương pháp thống kê toán: Thu thập và xử lý các chuỗi số liệu về lưu lượng phương tiện, nguồn thu phí, tỷ lệ đáp ứng ngân sách bảo trì quốc lộ và đường địa phương.
Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án được khai thác từ các báo cáo thống kê chính thức của Bộ Giao thông Vận tải, Cục Đường bộ Việt Nam, Viện Chiến lược và Phát triển Giao thông Vận tải, Thư viện Quốc gia Việt Nam, các văn bản quy phạm pháp luật và báo cáo dự án của WB, ADB.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm của các nước về nguồn thu từ người sử dụng đường bộ
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận kinh tế học cho toàn bộ đề tài. Tác giả làm rõ các khái niệm về khu vực công, hàng hóa công cộng, phân tích cơ chế thất bại của thị trường và cơ sở khách quan buộc chính phủ phải can thiệp vào quá trình cung ứng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Chương này phân tích sâu mô hình kinh tế về ngoại ứng và nguyên tắc xác định mức thu cân bằng với chi phí xã hội biên. Luận án mô hình hóa lợi ích ngoại ứng biên ($MEB$) và chi phí ngoại ứng biên ($MEC$), chứng minh rằng nếu không có sự can thiệp điều tiết của nhà nước, thị trường sẽ cung ứng hạ tầng ở mức sản lượng thấp hơn mức tối ưu xã hội khi có ngoại ứng tích cực, hoặc tạo ra mức xả thải, ô nhiễm vượt mức tối ưu khi có ngoại ứng tiêu cực.
| Khái niệm / Mô hình kinh tế | Đặc tính vận hành trong lĩnh vực đường bộ | Cơ chế điều tiết của Chính phủ |
|---|---|---|
| Hàng hóa công cộng ùn tắc | Không cạnh tranh khi lưu lượng thấp; xuất hiện cạnh tranh và giảm tốc độ lưu thông khi lưu lượng vượt qua điểm tới hạn $E$. | Áp dụng mức phí sử dụng đường theo giờ cao điểm hoặc phí chống ùn tắc. |
| Hàng hóa công cộng loại trừ bằng giá | Có thể thiết lập cơ chế kiểm soát phương tiện qua các trạm thu phí vật lý hoặc điện tử. | Thu phí hoàn vốn đầu tư các dự án BOT, BTO, BOO hoặc thu phí dịch vụ đường bộ. |
| Ngoại ứng tích cực ($MEB$) | Tuyến đường mới làm gia tăng giá trị bất động sản, kích thích phát triển thương mại ven tuyến. | Thu thuế bất động sản, tiền sử dụng đất hoặc phụ thu đối với các đơn vị hưởng lợi gián tiếp. |
| Ngoại ứng tiêu cực ($MEC$) | Khí thải động cơ, hao mòn mặt đường do xe quá tải, tiếng ồn và tai nạn giao thông. | Áp dụng thuế Pigou qua thuế nhiên liệu, phí tải trọng trục và kiểm định chuẩn khí thải. |
Nội dung chương 1 cũng khảo sát kinh nghiệm quản lý nguồn thu đường bộ của các quốc gia trên thế giới qua 3 giai đoạn: từ thu phí các tuyến cao tốc độc lập, mở rộng sang đánh thuế nhiên liệu và phí lưu hành bổ sung, cho đến việc áp dụng các công cụ thuế chống ùn tắc và điều tiết giá trị đất đai đô thị. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các mô hình hợp đồng đầu tư tư nhân như Xây dựng - Khai thác - Chuyển giao (BOT), Xây dựng - Sở hữu - Khai thác (BOO), Xây dựng - Chuyển giao - Khai thác (BTO) cần đi kèm khung định giá chi phí biên rõ ràng để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa nhà đầu tư, người sử dụng và ngân sách công.
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng về các nguồn thu từ người sử dụng đường bộ ở Việt Nam
Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về thực trạng huy động và quản lý các nguồn thu đường bộ tại Việt Nam giai đoạn trước năm 2011. Tác giả phân tích cơ cấu mạng lưới đường bộ gồm hệ thống đường trung ương (quốc lộ) và đường địa phương (đường tỉnh, đường huyện, đường xã, đường đô thị).
Thực trạng tài chính đường bộ được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
- Mức độ đáp ứng vốn bảo trì: Ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 40-50% nhu cầu thực tế đối với hệ thống quốc lộ và 20-30% đối với hệ thống đường địa phương.
- Cơ cấu nguồn thu hiện hữu: Nguồn thu chủ yếu dựa vào ngân sách phân bổ, một phần phí xăng dầu, phí qua trạm thu phí nộp về ngân sách và nguồn thu từ các trạm thu phí hoàn vốn BOT.
- Tác giả chỉ ra các hạn chế lớn của hệ thống thu hiện tại:
- Chưa phản ánh đúng nguyên tắc người hưởng lợi và người gây hư hại phải chi trả (xe tải nặng, xe vượt tải trọng trục gây hư hại kết cấu mặt đường gấp nhiều lần xe con nhưng mức nộp chưa tương xứng).
- Bỏ sót nguồn thu từ các đối tượng gián tiếp hưởng lợi lớn từ việc mở đường (chủ sở hữu đất đai, các cơ sở kinh doanh thương mại ven các trục lộ mới mở).
- Bỏ sót nguồn thu từ các cơ quan, đơn vị sử dụng kết cấu hạ tầng kỹ thuật nằm trong hành lang an toàn đường bộ (đường ống cấp thoát nước, cáp viễn thông, đường điện).
- Cơ chế trạm thu phí thủ công gây ùn tắc giao thông, chi phí tổ chức thu cao, tỷ lệ thất thoát lớn và chưa bảo đảm tính công bằng.
Chương 3: Xác định các nguồn thu từ người sử dụng đường bộ ở Việt Nam
Trên cơ sở lý luận của Chương 1 và thực trạng của Chương 2, Chương 3 là chương trọng tâm đề xuất giải pháp xác định hệ thống các nguồn thu mới và hoàn thiện phương pháp tính mức thu từ người sử dụng đường bộ tại Việt Nam.
Tác giả đề xuất cấu trúc hệ thống nguồn thu toàn diện bao gồm:
- Nguồn thu trực tiếp từ người tham gia giao thông: Hoàn thiện phương pháp thu phí xăng dầu, phí lưu hành phương tiện cơ giới, phí qua cầu đường cao tốc và cầu lớn theo chi phí biên.
- Ba nguồn thu mới được đề xuất cụ thể:
- Phí tải trọng trục: Thu đối với các phương tiện vận tải hàng hóa nặng dựa trên mức độ tác động phá hoại mặt đường của từng trục xe. Cơ sở tính toán dựa trên mức độ hao mòn kỹ thuật và chi phí bảo trì bù đắp hư hại do tải trọng trục gây ra.
- Nguồn thu từ các cơ quan sử dụng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đường bộ: Thu tiền thuê hoặc phí sử dụng hành lang kết cấu hạ tầng giao thông đối với các doanh nghiệp, cơ quan lắp đặt mạng lưới kỹ thuật ngầm hoặc nổi (hệ thống truyền tải điện lực, cáp thông tin viễn thông, đường ống cấp thoát nước, trạm thu phát sóng).
- Nguồn thu từ những người gián tiếp sử dụng đường bộ: Khai thác giá trị địa tô chênh lệch phát sinh khi nhà nước đầu tư hạ tầng giao thông, thông qua việc thu điều tiết tăng giá trị đất đai, phí phát triển hạ tầng đối với các dự án bất động sản hưởng lợi từ việc kết nối giao thông.
- Cơ chế tổ chức quản lý nguồn thu: Đề xuất hoàn thiện thể chế thành lập và vận hành Quỹ bảo trì đường bộ theo nguyên tắc tập trung nguồn lực tài chính, phân bổ minh bạch theo định mức kỹ thuật bảo dưỡng thường xuyên và định kỳ, ứng dụng công nghệ thu phí không dừng để giảm chi phí quản lý thu.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự công bố các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa các vấn đề cơ bản của lý thuyết kinh tế học khu vực công ứng dụng trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đường bộ; làm rõ căn cứ khoa học cho sự can thiệp của chính phủ vào thị trường dịch vụ công đường bộ.
- Xây dựng khung lý thuyết xác định mức thu từ người sử dụng đường bộ dựa trên nguyên tắc cân bằng chi phí xã hội biên, tích hợp việc xử lý ngoại ứng tích cực ($MEB$) và ngoại ứng tiêu cực ($MEC$) thông qua công cụ thuế Pigou và thu hồi địa tô đất đai.
- Khái quát hóa quy luật phát triển 3 giai đoạn của hệ thống thu phí đường bộ trên thế giới và rút ra các bài học kinh nghiệm về phân bổ chi phí cho từng nhóm phương tiện.
- Đề xuất bổ sung 3 nguồn thu mới vào hệ thống lý luận tài chính giao thông: phí tải trọng trục phương tiện, nguồn thu từ các cơ quan khai thác sử dụng hành lang hạ tầng đường bộ và nguồn thu từ các chủ thể hưởng lợi gián tiếp từ mạng lưới đường bộ.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích toàn diện thực trạng thiếu hụt vốn bảo trì tại Việt Nam (ngân sách chỉ đáp ứng 40-50% nhu cầu quốc lộ và 20-30% nhu cầu đường địa phương), chỉ rõ những bất cập và thất thoát trong cơ chế thu phí đường bộ hiện hành.
- Cung cấp luận cứ kinh tế cho các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chính sách thu phí công bằng, khắc phục hiện tượng "kẻ ăn không" và bảo đảm phân bổ nguồn lực hiệu quả.
- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện, quản lý các nguồn thu và định hướng ứng dụng công nghệ thu phí hiện đại, tạo lập nguồn vốn ổn định, bền vững cho công tác bảo trì hệ thống đường bộ quốc gia.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam, tập trung vào góc độ kinh tế học công cộng và tổ chức quản lý vận tải. Luận án không đi sâu giải quyết các bài toán tính toán kết cấu công trình kỹ thuật xây dựng mặt đường chi tiết mà tập trung vào phương pháp luận kinh tế xác định chi phí biên và cơ cấu nguồn thu.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ các khoảng trống và giới hạn của luận án bao gồm:
- Xây dựng mô hình định lượng chi tiết để tính toán mức thu cụ thể cho từng mức tải trọng trục của từng dòng xe tải nặng tại Việt Nam trong điều kiện biến động giá nguyên vật liệu.
- Hoàn thiện khung pháp lý và phương pháp định giá đất đai, bất động sản để thu hồi chính xác phần giá trị gia tăng địa tô do hạ tầng đường bộ mang lại trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân.
- Nghiên cứu giải pháp công nghệ thu phí tự động không dừng (ETC) và hệ thống kiểm soát tải trọng xe tự động trên diện rộng nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành thu phí.
Giá trị tham khảo
Công trình luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho nhiều đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kinh tế giao thông, Tổ chức và quản lý vận tải, Kinh tế công cộng có thể sử dụng luận án làm tài liệu tham khảo về khung phân tích lý thuyết ngoại ứng, tối ưu Pareto và hàng hóa công cộng ứng dụng trong giao thông.
- Giảng viên các trường đại học khối kinh tế, kỹ thuật giao thông có thể khai thác nội dung tổng quan tài liệu, lịch sử phát triển các chính sách thu phí đường bộ quốc tế và khung lý thuyết xác định chi phí xã hội biên để phục vụ giảng dạy.
- Các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý tại Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Tài chính, Cục Đường bộ Việt Nam có thể tham khảo cơ sở khoa học của 3 nguồn thu mới (phí tải trọng trục, phí sử dụng hành lang hạ tầng và thu hồi lợi ích từ giá đất) để xây dựng thể chế, quy định pháp luật về Quỹ bảo trì đường bộ và cơ chế tài chính hạ tầng.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, tỷ lệ đáp ứng vốn ngân sách cho bảo trì đường bộ tại Việt Nam thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Theo số liệu công bố trong văn bản, nguồn vốn ngân sách đầu tư cho bảo trì đường bộ ở Việt Nam luôn trong tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng, chỉ đáp ứng được khoảng 40% đến 50% nhu cầu đối với hệ thống đường quốc lộ và khoảng 20% đến 30% nhu cầu đối với hệ thống đường địa phương.
2. Luận án trích dẫn khuyến cáo nào của Liên đoàn Đường bộ Quốc tế về hiệu quả chi phí bảo trì?
Luận án trích dẫn: "Nếu chi thiếu 1 USD cho công tác bảo trì sẽ phải chi 4 USD cho công tác phục hồi, xây dựng lại công trình hoặc nếu chi 1 USD cho công tác bảo trì để bảo đảm cầu đường luôn tốt, an toàn sẽ tiết kiệm được 3 USD trong hoạt động khai thác vận tải do tiết kiệm nhiên liệu, giảm hao mòn xe và nâng cao năng suất phương tiện, giảm thời gian đi lại".
3. Tác giả đã đề xuất những nguồn thu mới nào cho lĩnh vực đường bộ ở Việt Nam?
Tác giả đề xuất 3 nguồn thu mới: (1) Phí tải trọng trục xe đối với các phương tiện vận tải hàng hóa nặng; (2) Nguồn thu từ các cơ quan sử dụng hành lang kết cấu hạ tầng đường bộ (lắp đặt đường điện, cáp viễn thông, đường ống cấp thoát nước); (3) Nguồn thu từ những người gián tiếp sử dụng đường bộ thông qua thu hồi giá trị địa tô gia tăng của bất động sản.
4. Khung lý thuyết kinh tế học nào được luận án sử dụng để phân tích việc đánh thuế ô nhiễm môi trường đối với phương tiện giao thông?
Tác giả sử dụng lý thuyết ngoại ứng tiêu cực và thuế Pigou của nhà kinh tế học Arthur Pigou. Mức thuế được đề xuất đánh vào mỗi đơn vị sản phẩm xả thải gây ô nhiễm đúng bằng chi phí ngoại ứng biên ($MEC$) tại mức sản lượng tối ưu; hoặc áp dụng gián tiếp thông qua thuế xăng dầu tiêu thụ theo quãng đường và kiểm soát mức chuẩn phát thải định kỳ.
5. Luận án phân chia người sử dụng đường bộ thành những nhóm đối tượng nào?
Tác giả phân chia thành 3 nhóm: (1) Cá nhân, tổ chức trực tiếp tham gia vận chuyển hàng hóa, hành khách hoặc sử dụng phương tiện để đi lại; (2) Cá nhân, tổ chức thuê kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc mục đích khác; (3) Cá nhân, tổ chức được hưởng lợi gián tiếp do mạng lưới đường bộ mang lại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Dũng đã hoàn thành việc xây dựng cơ sở lý luận kinh tế học công cộng và phân tích thực trạng huy động nguồn vốn bảo trì đường bộ tại Việt Nam. Tác giả đã chỉ rõ sự thiếu hụt nghiêm trọng của nguồn ngân sách nhà nước và các bất cập trong cơ chế thu hiện hành, đồng thời làm rõ tính chất hàng hóa công cộng không thuần túy của kết cấu hạ tầng giao thông. Đóng góp nổi bật của luận án là đề xuất hệ thống nguồn thu đồng bộ, trọng tâm là 3 nguồn thu mới gồm phí tải trọng trục, phí sử dụng hành lang hạ tầng và nguồn thu từ các đối tượng gián tiếp hưởng lợi. Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn đối với công tác tổ chức, quản lý và tạo lập nguồn tài chính bền vững cho ngành giao thông vận tải đường bộ Việt Nam.