Luận án truyền dẫn chính sách tài khóa từ các quốc gia có quan hệ thương mại đến việt nam ứng dụng mô hình gvar

Luận án phân tích truyền dẫn chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại đến Việt Nam, ứng dụng mô hình GVAR để đánh giá tác động.

Chuyên ngành

Kinh Tế Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2023

153
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

1.2. Khoảng trống nghiên cứu

1.3. Mục tiêu của luận án

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Những đóng góp mới của luận án

1.7. Kết cấu của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1. Lý thuyết cơ sở về truyền dẫn chính sách tài khóa quốc tế

Tóm tắt

I. Bối cảnh nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc lẫn nhau. Mô hình GVAR được áp dụng để phân tích chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại với Việt Nam. Các cú sốc từ một quốc gia có thể lan tỏa qua nhiều kênh, ảnh hưởng đến tiêu dùng và sản lượng. Nghiên cứu chỉ ra rằng chính sách tài khóa ở nước ngoài có thể tạo ra hiệu ứng tích cực hoặc tiêu cực cho nền kinh tế Việt Nam. Các lý thuyết như của Frenkel & Razin (1985) đã chỉ ra rằng sự gia tăng chi tiêu chính phủ ở nước ngoài có thể làm tăng sản lượng trong nước, hoặc ngược lại, gây ra hiệu ứng “làm nghèo hàng xóm”. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc hiểu rõ cơ chế truyền dẫn chính sách tài khóa quốc tế.

1.1. Tác động của chính sách tài khóa quốc tế

Chính sách tài khóa mở rộng ở các quốc gia lớn có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế nhỏ như Việt Nam. Nghiên cứu cho thấy rằng các chính sách này có thể dẫn đến sự gia tăng tiêu dùng hộ gia đình và sản lượng. Tuy nhiên, hiệu ứng này không phải lúc nào cũng tích cực. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sự lan tỏa của chính sách tài khóa có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như lãi suất, tỷ giá hối đoái và tình trạng kinh tế vĩ mô. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về tác động của chính sách tài khóa từ các quốc gia đối tác thương mại đến Việt Nam.

II. Khoảng trống nghiên cứu

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chính sách tài khóa ở các quốc gia phát triển, nhưng việc nghiên cứu tác động của chính sách này đến các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ, trong khi tác động từ các quốc gia thương mại lớn đến Việt Nam chưa được khai thác đầy đủ. Điều này tạo ra một khoảng trống nghiên cứu cần được lấp đầy để hiểu rõ hơn về sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.

2.1. Nhu cầu nghiên cứu

Việc nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại đến Việt Nam là cần thiết. Điều này không chỉ giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế mà còn giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc điều chỉnh chính sách. Nghiên cứu này sẽ cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về tác động lan tỏa từ cú sốc tài khóa của các quốc gia đối tác thương mại đến Việt Nam, từ đó giúp cải thiện khả năng ứng phó với các cú sốc kinh tế.

III. Mục tiêu nghiên cứu

Luận án này nhằm nghiên cứu sự truyền dẫn chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại đến Việt Nam. Mục tiêu cụ thể bao gồm phân tích tác động của chính sách tài khóa nước ngoài lên tiêu dùng hộ gia đình và sản lượng của Việt Nam. Nghiên cứu sẽ làm rõ cơ chế truyền dẫn thông qua các yếu tố như tỷ giá hối đoái thực đa phương và giá cả nội địa. Điều này sẽ giúp xác định liệu Việt Nam có thể hưởng lợi từ chính sách tài khóa của các quốc gia đối tác hay không.

3.1. Tác động đến tiêu dùng và sản lượng

Nghiên cứu sẽ xem xét tác động của chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại đến tiêu dùng hộ gia đình và sản lượng của Việt Nam. Qua đó, sẽ phân tích hiệu ứng “làm giàu hàng xóm” hoặc “làm nghèo hàng xóm” khi Việt Nam tiếp nhận sự lan tỏa tài khóa từ các đối tác thương mại. Điều này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa các nền kinh tế mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách trong việc điều chỉnh chính sách tài khóa trong nước.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp GVAR để đánh giá tác động lan tỏa từ các quốc gia thương mại đến nền kinh tế Việt Nam. Phương pháp này cho phép phân tích sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia và các kênh truyền dẫn khác nhau. Bằng cách kết hợp các mô hình hiệu chỉnh sai số của từng quốc gia, nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các cú sốc tài khóa ở nước ngoài có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam.

4.1. Lợi ích của phương pháp GVAR

Phương pháp GVAR cho phép phân tích các mối quan hệ phức tạp giữa các quốc gia và các yếu tố kinh tế vĩ mô. Điều này giúp xác định rõ hơn các kênh truyền dẫn chính sách tài khóa và tác động của chúng đến nền kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu sẽ cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về sự lan tỏa của chính sách tài khóa từ các quốc gia đối tác thương mại, từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế.

V. Kết luận và hàm ý chính sách

Luận án sẽ tổng kết các kết quả nghiên cứu và đưa ra các hàm ý chính sách cho nền kinh tế Việt Nam. Các kết quả sẽ chỉ ra rằng chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại có thể ảnh hưởng đến tiêu dùng và sản lượng của Việt Nam. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi và điều chỉnh chính sách tài khóa trong bối cảnh toàn cầu hóa.

5.1. Đề xuất chính sách

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, luận án sẽ đề xuất các chính sách nhằm tối ưu hóa lợi ích từ sự lan tỏa của chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại. Các nhà hoạch định chính sách cần chú ý đến các yếu tố như tỷ giá hối đoái và giá cả nội địa để điều chỉnh chính sách tài khóa trong nước, từ đó nâng cao khả năng ứng phó với các cú sốc kinh tế từ bên ngoài.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giới thiệu Trong chương này, luận án sẽ trình bày bối cảnh nghiên cứu, từ đó nêu lên vấn đề nghiên cứu cần giải quyết trong luận án. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương này sẽ trình bày khuôn khổ mô hình lý thuyết, phân tích sự truyền dẫn chính sách tài khóa quốc tế. Đồng thời, xem lại các nghiên cứu thực nghiệm trước đây liên quan đến sự truyền dẫn chính sách tài khóa từ các quốc gia phát triển và đang phát triển nhằm so sánh đặc điểm truyền dẫn khác nhau giữa hai nhóm nước này.

Phương pháp luận và dữ liệu nghiên cứu Chương này sẽ trình bày dữ liệu nghiên cứu, cách xử lý số liệu và sử dụng phương pháp GVAR nhằm tìm hiểu các kênh truyền dẫn chính sách tài khóa của các quốc gia đối tác đến nền kinh tế Việt Nam. Kết quả nghiên cứu Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu khi xem xét tác động của chính sách tài khóa từ các quốc gia có quan hệ thương mại lên tiêu dùng hộ gia đình, sản lượng, số dư tiền thực, tỷ giá hối đoái thực đa phương, giá cả nội địa của Việt Nam - Chương 5. Kết luận và hàm ý nghiên cứu Chương 5 trình bày kết luận và hàm ý chính sách đối với nền kinh tế Việt Nam. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Lý thuyết cơ sở về truyền dẫn chính sách tài khóa quốc tế Chính sách tài khóa – một trong những chính sách kinh tế vĩ mô quan trọng đã được các nhà kinh tế lỗi lạc nghiên cứu và phát triển thành các lý thuyết nổi tiếng trong kinh tế quốc tế.

Hơn nửa thế kỉ qua, những lý thuyết đó được nhắc đến như là những lý thuyết kinh điển liên quan đến truyền dẫn chính sách tài khóa quốc tế. Các tiên đoán trong mô hình lý thuyết cũng có sự thay đổi theo những bối cảnh nghiên cứu khác nhau.1 Truyền dẫn chính sách tài khóa quốc tế thông qua lãi suất Fleming-Mundell (1962, 1963) cho thấy rằng việc mở rộng chính sách tài khóa ở nước chủ nhà có thể ảnh hưởng tích cực đến sản lượng nước ngoài. Mở rộng chi tiêu chính phủ ở nước chủ nhà làm tăng thu nhập kết hợp với sự gia tăng việc làm và sản lượng. Điều này dẫn đến nhập khẩu nhiều hơn từ nước ngoài làm cho cán cân thương mại của các nước đối tác thương mại thặng dư dưới chế độ tỷ giá hối đoái cố định.

Cơ chế tác động này sẽ thay đổi dưới chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt. Thu nhập tăng sẽ làm tăng lãi suất, và điều này có thể ảnh hưởng đến sự dịch chuyển của dòng vốn. Đây có thể là một lý do làm cho đồng nội tệ tăng giá khiến xuất khẩu giảm trở lại. Các tác giả này quan tâm đến khía cạnh chi tiêu chính phủ hơn khi nghiên cứu về chính sách tài khóa, vì cho rằng, việc cắt giảm thuế sẽ có tác động giống như tăng chi tiêu chính phủ, nhưng lại ít hiệu quả hơn.

Phát triển mô hình lý thuyết của Fleming-Mundell, Frenkel & Razin (1985) cho rằng hiệu ứng “làm giàu hàng xóm” phụ thuộc vào hai yếu tố - vị thế tiết kiệm ròng của quốc gia và hành vi tiêu dùng của quốc gia đó. Giả sử rằng khu vực công và tư nhân chi tiêu chủ yếu vào hàng hóa nước ngoài, và quốc gia đó có vị vị thế dòng vốn vào ròng. Sự gia tăng chính sách tài khóa trong dài hạn ở nước chủ nhà có thể khiến thâm hụt cán cân thương mại và lãi suất hiện hành giảm. Lãi suất giảm có thể kích thích tiêu dùng hiện tại lên hàng hóa nước ngoài và mang lại sự thịnh vượng cho các 10 quốc gia đối tác thương mại của mình.

Kết quả sẽ ngược lại nếu quốc gia đó có vị thế dòng vốn chảy ra ròng, vì nó sẽ làm tăng lãi suất hiện hành và từ đó làm giảm tiêu dùng thế giới. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, một sự gia tăng tài khóa tạm thời có thể gây ra hiệu ứng “làm nghèo hàng xóm”. Nó làm giảm mức tiêu dùng trong nước và nước ngoài do hiệu ứng lấn át khu vực tư từ việc mở rộng chi tiêu chính phủ. Liên quan đến chi tiêu chính phủ được tài trợ bằng trái phiếu, Frenkel & Razin (1987) nhận thấy rằng chính sách tài khóa mở rộng sẽ kích thích nhu cầu đối với cả hàng hóa trong và ngoài nước.

Với nguồn cung tiền không thay đổi, việc mở rộng sản lượng sẽ tạo áp lực tăng lãi suất. Khi lãi suất ở thị trường trong nước cao hơn thị trường nước ngoài, đồng nội tệ sẽ tăng giá làm cho nhu cầu đối với hàng hóa nước ngoài có thể sẽ tăng lên. Mặc dù sự gia tăng chi tiêu chính phủ ở nước chủ nhà làm tăng sản lượng trong nước, nhưng sản lượng nước ngoài có thể được tăng hoặc giảm dưới cơ chế tỷ giá hối đoái cố định. Điều này là do, nó phải chịu hai lực trái ngược nhau.

Mở rộng chi tiêu của chính phủ trong nước có thể thúc đẩy nhu cầu đối với hàng hóa nước ngoài. Tuy nhiên, lãi suất thế giới có thể tăng làm giảm nhu cầu hàng hóa ngược trở lại. Do đó, nếu ảnh hưởng của lãi suất đến tổng cầu yếu hơn, thì cả sản lượng trong và ngoài nước đều tăng. Ngoài ra, phụ thuộc vào mức độ tương đối của khuynh hướng tiết kiệm và nhập khẩu trong nước và nước ngoài, và độ nhạy cảm với cầu tiền mà cán cân thanh toán quốc tế có thể thâm hụt hay thăng dự, và đồng tiền có thể tăng giá hoặc giảm giá.

Tuy nhiên, với chi tiêu chính phủ được tài trợ bằng thuế thì không làm thay đổi lãi suất thế giới, nhưng làm tăng sản lượng nội địa và làm giảm giá đồng nội tệ dưới cơ chế tỷ giá linh hoạt. Khi đồng tiền giảm giá, làm giảm cầu hàng hóa nước ngoài của khu vực tư nhân, nhưng nó được bù đắp hoàn toàn bởi sự gia tăng cầu trong chi tiêu chính phủ, do đó sản lượng nước ngoài không bị tác động. Ngược lại, trong cơ chế tỷ giá cố định, gia tăng chi tiêu chính phủ được tài trợ bằng thuế sẽ làm tăng cầu thế giới đối với hàng hóa nước ngoài. Tuy nhiên, phụ thuộc vào khuynh hường nhập khẩu của chi tiêu chính phủ mà sản lượng trong nước có thể tăng hoặc giảm.

Nếu như 11 khuynh hướng nhập khẩu của chính phủ không vượt quá khuynh hướng của khu vực tư nhân thì cả sản lượng trong nước và nước ngoài đều tăng. Các mô hình lý thuyết khảo sát sự lan truyền giữa các quốc gia từ việc gia tăng chi tiêu chính phủ dần được mở rộng các giả định liên quan độ co giãn thương mại, quy mô và độ mở kinh tế, sự không hoàn hảo về tài chính. Không giống như các nghiên cứu trước đây, Corsetti và cộng sự (2010) đã làm sáng tỏ một trường hợp chi tiêu chính phủ được tài trợ bằng nợ tạm thời, dựa trên mô hình chu kỳ kinh doanh hai quốc gia. Họ tin rằng nợ công tạm thời sẽ gây áp lực lên việc tăng thuế cùng với việc giảm chi tiêu của chính phủ trong tương lai.

Việc đảo ngược chi tiêu này sẽ tạo ra kỳ vọng giảm lãi suất ngắn hạn trong tương lai. Điều này cũng làm cho lãi suất dài hạn hiện tại giảm ở cả trong và ngoài nước, nếu việc mở rộng chi tiêu của chính phủ xảy ra ở một quốc gia lớn. Từ đó, chi tiêu hộ gia đình và sản lượng có thể được thúc đẩy ở cả trong và ngoài nước. Do đó, chi tiêu hợp lý của chính phủ với các khoản vay trung hạn đáng tin cậy được cho là chính sách kích thích hiệu quả nhất cho nền kinh tế toàn cầu.

Một điểm khác trong nghiên cứu này liên quan đến tác động của tỷ giá hối đoái. Theo các lý thuyết truyền thống, nước ngoài có thể đạt được tỷ trọng thương mại quốc tế cao hơn từ sự tăng giá đồng nội tệ do chính sách tài khóa mở rộng ở quốc gia này. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Corsetti et al. (2010) lại cho thấy một chính sách tài khóa kích thích dưới sự đảo ngược chi tiêu này sẽ khiến tiền tệ mất giá, nhưng vẫn mang lại hiệu quả tích cực đối với sản lượng nước ngoài.

Như vậy, trong mô hình lý thuyết này, các tác giả đã làm sáng tỏ một trường hợp, đó là việc gia tăng chi tiêu chính phủ được tài trợ bằng nợ tạm thời sẽ làm tăng thuế trong tương lai kết hợp với việc giảm chi tiêu trong suốt thời gian đó. Việc đảo ngược chi tiêu dự kiến không chỉ làm gia tăng tác động kích thích trong nước mà còn tăng cường sự lan tỏa tốt đến các quốc gia khác thông qua tác động của nó lên lãi suất toàn cầu trong dài hạn. Vì vậy kết quả nghiên cứu của họ cho thấy việc kết hợp các chính sách kích thích trong ngắn hạn là hiệu quả nhất khi kết hợp các kế hoạch vay mượn nợ trung hạn đáng tin cậy cùng với một số các giới hạn chi tiêu. 12 Trường hợp tài trợ hoàn toàn bằng thuế thì làm cho sản lượng tăng và chi tiêu tư nhân giảm.

Đồng nội tệ tăng giá làm dịch chuyển tiêu dùng sang nước ngoài. Tác động dương lên hàng hóa nước ngoài này có thể gặp trở ngại vì sự gia tăng lãi suất toàn cầu. Bởi sự gia tăng lãi suất, làm tăng chi phí cơ hội của việc tiêu dùng hiện tại nên nó sẽ làm giảm chi tiêu hộ gia đình ngược trở lại. Trừ phi quốc gia này có quy mô là rất nhỏ thì nó sẽ không tác động lên lãi suất toàn cầu.2 Truyền dẫn chính sách tài khóa thông qua hành vi tiêu dùng Svensson (1987) tranh luận rằng lãi suất và tỷ giá hối đoái phụ thuộc nhiều vào thông tin về các cú sốc kinh tế hơn là chi tiêu của chính phủ.

Thay vào đó, hành vi của người tiêu dùng đối với hàng hóa trong nước và nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong mô hình của ông. Với chi tiêu chính phủ được tài trợ bằng thuế, việc tiêu thụ hàng hóa nước ngoài phụ thuộc vào số dư tiền thực đồng ngoại tệ. Trong đó, chênh lệch giữa tiêu dùng hàng hóa nước ngoài và số dư tiền bằng đồng ngoại tệ cũng phụ thuộc vào lạm phát nước ngoài và sự mở rộng tiền tệ nước ngoài. Ngoài ra, việc tiêu dùng hàng hóa nước ngoài cũng phụ thuộc vào tính bổ sung hoặc thay thế giữa hàng hóa trong nước và nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án về ứng dụng mô hình GVAR trong truyền dẫn chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại đến Việt Nam" nghiên cứu việc áp dụng mô hình GVAR (Global Vector Autoregression) để phân tích tác động của chính sách tài khóa từ các quốc gia thương mại đến Việt Nam. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các chính sách tài khóa quốc tế có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra quyết định chính xác hơn trong việc điều chỉnh các chính sách tài khóa trong nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài chính và các chính sách liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận Văn Về Quản Lý Tài Chính Tại Công Ty Cổ Phần Bibica, nơi phân tích các phương pháp quản lý tài chính trong doanh nghiệp, hay Hoàn thiện quản lý tài chính tại Bệnh viện Mắt tỉnh Phú Thọ, cung cấp cái nhìn về quản lý tài chính trong lĩnh vực y tế. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Nghiên cứu về ảnh hưởng của kế hoạch thuế đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của chính sách thuế đến doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách tài chính và quản lý tài chính tại Việt Nam.