Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chính sách tài khóa (CSTK) và chính sách tiền tệ (CSTT) là hai công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô trụ cột của mỗi quốc gia. Về mặt lý thuyết và thực tiễn điều hành, hai chính sách này có tính độc lập tương đối nhưng lại sở hữu mối quan hệ tương tác, hỗ trợ lẫn nhau. Sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa cơ quan quản lý tài khóa (Bộ Tài chính) và cơ quan quản lý tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) là điều kiện tiên quyết để đạt được các mục tiêu vĩ mô cốt lõi, bao gồm duy trì tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát và ổn định thị trường tài chính. Ngược lại, nếu thiếu sự gắn kết hoặc điều hành lệch pha, hiệu quả chính sách sẽ bị suy giảm, thậm chí làm gia tăng rủi ro bất ổn vĩ mô.

Tại Việt Nam, sau giai đoạn ứng phó với khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007–2008 và những biến động phức tạp của nền kinh tế, công tác phối hợp CSTK - CSTT đã có những chuyển biến rõ rệt. CSTT từng bước được điều hành linh hoạt, thận trọng; CSTK được hoàn thiện theo hướng minh bạch, chặt chẽ hơn. Dù vậy, thực tế điều hành vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về cơ chế vận hành, thời điểm can thiệp, liều lượng phối hợp cũng như sự xung đột giữa mục tiêu tăng trưởng và áp lực thâm hụt ngân sách, nợ công. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tốt nghiệp "Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam giai đoạn hiện nay. Thực trạng và giải pháp" của tác giả Lê Thị Dịu (Chuyên ngành Quản lý Tài chính, Khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng) được thực hiện nhằm làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về CSTK, CSTT, mối quan hệ tác động qua lại và các khía cạnh phối hợp giữa hai chính sách, kết hợp khảo cứu bài học kinh nghiệm quốc tế.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng điều hành riêng rẽ cũng như thực trạng phối hợp CSTK và CSTT tại Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2017; chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.
  3. Đề xuất các quan điểm, định hướng và khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp CSTK và CSTT tại Việt Nam giai đoạn 2018 – 2025.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng điều hành CSTK, thực trạng điều hành CSTT và sự phối kết hợp giữa hai chính sách này tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Nền kinh tế Việt Nam, có liên hệ và so sánh với kinh nghiệm thực tiễn tại Singapore, Nhật Bản và Trung Quốc.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực trạng tập trung trong giai đoạn 2013 – 2017; các khuyến nghị và giải pháp hướng đến giai đoạn 2018 – 2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế vĩ mô và kinh tế học tiền tệ - ngân hàng, kết hợp khung khổ pháp lý hiện hành của Việt Nam:

  • Khung lý thuyết và mô hình vận dụng:

    • Lý thuyết Keynes: Tư tưởng sử dụng tài chính nhà nước và can thiệp vĩ mô để kích thích tổng cầu thông qua chi tiêu công và điều tiết lưu thông tiền tệ.
    • Mô hình IS – LM: Khung phân tích tương tác giữa thị trường hàng hóa (đường IS) và thị trường tiền tệ (đường LM) dưới các kịch bản phối hợp: CSTK mở rộng kết hợp CSTT mở rộng (hạn chế hiện tượng thoái lui đầu tư); CSTK thắt chặt kết hợp CSTT thắt chặt (hạ nhiệt kinh tế quá nóng); CSTK mở rộng kết hợp CSTT thắt chặt (kiểm soát lạm phát trong khi vẫn hỗ trợ sản lượng).
    • Quy tắc Tinbergen: Nguyên tắc xác định số lượng công cụ chính sách tối thiểu phải bằng số lượng mục tiêu chính sách nhằm đảm bảo tính hiệu lực.
    • Lý thuyết về độ trễ chính sách: Phân định rõ độ trễ trong (internal lag - thời gian nhận thức, soạn thảo và ban hành) và độ trễ ngoài (external lag - thời gian chính sách phát huy tác dụng lên tổng cầu).
    • Các công trình nghiên cứu thực nghiệm: Mô hình MSG của Warwick (1986); nghiên cứu của Delisle (2000); mô hình VAR của Aynul & Alberto (2009), Habibur (2009), Manmohan (2009), Janak, Khundrakpam & Dipika (2011); mô hình ECM của Vũ Nhữ Thăng (2013); các nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Thạch (2014), Khuất Duy Tuấn (2011).
    • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Ngân hàng Nhà nước 2010, Luật Ngân sách Nhà nước 2015, Luật Phí và lệ phí 2015, Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016 của Bộ Chính trị về cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công, Nghị quyết số 01/NQ-CP năm 2017, Nghị quyết số 70/NQ-CP năm 2017, Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP, Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2013 và Chỉ thị số 14/CT-TTg.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu: Khai thác dữ liệu thứ cấp từ Internet, giáo trình chuyên ngành, báo cáo thường niên, bài báo khoa học và các công trình nghiên cứu trong nước, quốc tế.
    • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh kinh nghiệm điều hành vĩ mô của Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc; so sánh chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô qua các năm trong giai đoạn 2013 – 2017.
    • Phương pháp định lượng thống kê mô tả: Phân tích các chỉ số tăng trưởng GDP, chỉ số giá tiêu dùng CPI, thu - chi NSNN, tỷ lệ bội chi, quy mô nợ công và các mức lãi suất điều hành.
    • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Đánh giá sự vận động của chính sách trong mối liên hệ nhân quả và bối cảnh chuyển dịch kinh tế thực tế.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu và báo cáo chính thức từ Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thống kê, Báo cáo Môi trường Kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và cơ sở dữ liệu tài chính NDH.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

Chương này tập trung chuẩn hóa các khái niệm, công cụ, mục tiêu và cơ chế vận hành độc lập cũng như tương tác của hai chính sách:

  • Chính sách tài khóa: Phân loại thành trung lập, mở rộng ($G > T$) và thu hẹp. Ba mục tiêu chính gồm: duy trì tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, kiểm soát lạm phát ở mức vừa phải và ổn định sản lượng ở mức tiềm năng. Công cụ gồm Thuế ($T$ - trực thu và gián thu), Chi tiêu Chính phủ ($G$ - chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển) cùng các công cụ tài trợ thâm hụt ngân sách / nợ công.
  • Chính sách tiền tệ: Hướng tới các mục tiêu cuối cùng là ổn định giá cả (ổn định sức mua đồng tiền), tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm đầy đủ. Hệ thống điều hành thông qua mục tiêu trung gian (các khối tiền M1, M2, M3, lãi suất thị trường) và mục tiêu hoạt động (lãi suất liên ngân hàng, dự trữ không vay, dự trữ đi vay). Hệ thống công cụ gồm công cụ trực tiếp (hạn mức tín dụng, khung lãi suất) và công cụ gián tiếp (dự trữ bắt buộc, chính sách tái chiết khấu/tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở - NVTTM).
  • Mối quan hệ và sự cần thiết phối hợp: Phối hợp giúp tăng tính hiệu lực chính sách (theo quy tắc Tinbergen), khắc phục độ trễ (bù trừ giữa độ trễ trong dài của CSTK và độ trễ ngoài dài của CSTT), đồng thời ổn định kỳ vọng lạm phát của thị trường. Mức độ phối hợp được minh họa qua các trạng thái dịch chuyển của đường IS và LM. Các nhân tố tác động đến sự phối hợp gồm: mục tiêu vĩ mô ưu tiên của Chính phủ, độ phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP), tính độc lập giữa hai chính sách và mức độ minh bạch thông tin.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo cứu thực tiễn tại Singapore (CSTK thận trọng, duy trì thặng dư, chính sách thuế cạnh tranh kết hợp kiểm soát lạm phát dài hạn trung bình 2,1%/năm), Nhật Bản (phối hợp CSTK mở rộng qua 3 gói kích thích 75.000 tỷ Yên với CSTT nới lỏng lãi suất 0 - 0,1% của BOJ, Điều 4 Luật BOJ quy định duy trì liên lạc với Chính phủ) và Trung Quốc (CSTK tích cực kết hợp CSTT ổn định). Từ đó rút ra 5 bài học cho Việt Nam: xác định đúng trọng tâm ưu tiên, tính toán liều lượng phù hợp, phối hợp đồng bộ với giám sát an toàn vĩ mô, lựa chọn phương thức can thiệp giảm sốc hành chính và tăng cường chia sẻ thông tin giữa Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước.

Chương 2: Thực trạng sự phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về diễn biến kinh tế vĩ mô và thực tế điều hành hai chính sách trong giai đoạn 2013 – 2017:

  • Bối cảnh vĩ mô 2013 – 2017:
    • Tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt 6,22%, cao hơn giai đoạn 2008 – 2012. Tốc độ tăng trưởng từng năm: năm 2013 đạt 5,42%; năm 2014 đạt 5,98%; năm 2015 đạt 6,68% (vượt mục tiêu 6,2%, quy mô 4.192,9 nghìn tỷ đồng, GDP/người đạt 2.109 USD); năm 2016 đạt dưới 6,68% (không đạt mục tiêu 6,7%); năm 2017 phục hồi mạnh đạt 6,81% (GDP/người đạt 2.385 USD).
    • Lạm phát được kiềm chế: CPI bình quân năm 2014 tăng 4,09% (giảm từ 5,45% tháng 1 xuống 1,84% tháng 12); năm 2015 CPI chỉ tăng 0,6% (mức thấp nhất trong nhiều năm do giá năng lượng và lương thực giảm sâu); năm 2016 tăng 4,74%; năm 2017 kiểm soát ở mức 3,53% (hoàn thành mục tiêu dưới 4%).
Chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 2013 2014 2015 2016 2017
Tăng trưởng GDP (%) 5,42 5,98 6,68 < 6,68 6,81
GDP bình quân đầu người (USD) 1.960 2.050 2.109 2.215 2.385
Chỉ số giá tiêu dùng CPI (%) 6,60 4,09 0,60 4,74 3,53
Bội chi NSNN (% GDP) 6,60 6,48 - - 3,48
Nợ công (% GDP) 54,2 - 64,0 - 62,6
  • Thực trạng điều hành CSTK:
    • Thu NSNN: Thực tế thu liên tục vượt dự toán (năm 2014 vượt 10,33%, năm 2015 đạt 996,87 nghìn tỷ đồng vượt 9,4%, năm 2016 vượt 8,6%, năm 2017 đạt gần 1,3 triệu tỷ đồng vượt 5,9% dự toán). Năm 2013, thu thực tế đạt 772.751 tỷ đồng (nếu không tính 55.597 tỷ đồng thu đặc thù ngoài dự toán thì chỉ đạt 94,7% do thực hiện miễn giảm thuế theo Nghị quyết 02/NQ-CP). Cải cách hành chính thuế ghi nhận cắt giảm thời gian nộp thuế xuống 117 giờ (2015), tỷ lệ khai thuế điện tử đạt 98,95%.
    • Chi NSNN: Tổng chi có xu hướng tăng, vượt ngưỡng một nghìn tỷ đồng từ năm 2014. Chi thường xuyên chiếm tỷ trọng áp đảo từ 65% – 75% (đạt 71% năm 2014 và 77,9% năm 2016). Năm 2015, tổng chi đạt 1.262,87 nghìn tỷ đồng (chi đầu tư phát triển vượt 21,5% do giải ngân 30 nghìn tỷ đồng ODA). Hoạt động an sinh xã hội đã xuất cấp 108 nghìn tấn gạo (2015) và trên 155 nghìn tấn gạo (2016).
    • Bội chi và nợ công: Bội chi NSNN giảm từ 6,6% GDP (2013) xuống 3,48% GDP (2017 - tương đương hơn 174 nghìn tỷ đồng). Nợ công tăng từ 54,2% GDP (2013) lên đỉnh 64% GDP (2015) rồi giảm về 62,6% GDP (2017). Áp lực đảo nợ gia tăng: nghĩa vụ trả nợ chiếm 25% thu NSNN (2014) và 31% (2015); khối lượng vay đảo nợ ước tính 70–99 nghìn tỷ đồng (2014) lên 135 nghìn tỷ đồng (2015). Vốn ODA chưa giải ngân tính đến tháng 6/2017 còn 21,167 tỷ USD.
  • Thực trạng điều hành CSTT: NHNN kiên định mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Điều hành linh hoạt lượng tiền cơ sở thông qua tái cấp vốn và NVTTM; phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng theo năng lực của từng TCTD; kiểm soát tổng phương tiện thanh toán và duy trì mặt bằng lãi suất phù hợp.
  • Đánh giá kết quả và hạn chế: Phối hợp chính sách đã giúp phục hồi đà tăng trưởng, duy trì lạm phát thấp và kéo giảm tỷ lệ bội chi. Tuy nhiên, hiệu quả phối hợp vẫn gặp cản trở do cơ cấu chi ngân sách chưa hợp lý (chi thường xuyên quá lớn, chi đầu tư phát triển bị chèn ép), thị trường TPCP chủ yếu kỳ hạn ngắn gây áp lực đảo nợ lớn, và cơ chế phối hợp chia sẻ thông tin dòng tiền kho bạc giữa Bộ Tài chính và NHNN còn độ trễ.

Chương 3: Một số khuyến nghị nhằm tăng cường hiệu quả phối hợp CSTK và CSTT tại Việt Nam

Chương 3 xây dựng các định hướng và nhóm giải pháp cho giai đoạn 2018 – 2025:

  • Định hướng trung và dài hạn: Thực hiện các mục tiêu tái cơ cấu NSNN theo Nghị quyết 07-NQ/TW; kiểm soát chặt chẽ an toàn nợ công; điều hành CSTT thận trọng nhằm giữ vững ổn định giá trị đồng tiền và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất:
    • Tăng cường kỷ luật tài khóa, triệt để cơ cấu lại chi NSNN: giảm tỷ trọng chi thường xuyên, nâng cao hiệu quả giải ngân vốn đầu tư công và vốn ODA;
    • Phát triển đồng bộ thị trường trái phiếu Chính phủ: đa dạng hóa kỳ hạn phát hành (kéo dài kỳ hạn để giảm áp lực đảo nợ ngắn hạn), nâng cao tính thanh khoản trên thị trường thứ cấp để tạo đường cong lãi suất chuẩn;
    • Hoàn thiện cơ chế trao đổi thông tin dòng tiền: thiết lập kênh kết nối dữ liệu thời gian thực giữa Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý và dự báo số dư tiền gửi Kho bạc;
    • Nâng cao tính chủ động và độc lập tương đối của Ngân hàng Nhà nước trong việc hoạch định các công cụ tiền tệ; phối hợp nhịp nhàng giữa quản lý lãi suất và phát hành nợ công để tránh gây áp lực chèn ép tín dụng tư nhân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa hệ thống số liệu thực nghiệm về điều hành vĩ mô tại Việt Nam giai đoạn 2013 – 2017:

  • Hệ thống hóa số liệu thực tế: Ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP phục hồi bình quân đạt 6,22%/năm; lạm phát CPI giảm sâu từ 6,6% (2013) về 0,6% (2015) và ổn định ở mức 3,53% (2017); tỷ lệ bội chi ngân sách thu hẹp rõ rệt từ 6,6% xuống 3,48% GDP (2017); nợ công được kiểm soát về mức 62,6% GDP (2017).
  • Làm rõ các điểm nghẽn điều hành: Chỉ ra áp lực đảo nợ gia tăng với quy mô vay đảo nợ lên tới 135 nghìn tỷ đồng (2015), gánh nặng nghĩa vụ trả nợ chiếm 31% tổng thu NSNN (2015), cùng tỷ trọng chi thường xuyên neo cao ở mức 71% – 77,9% tổng chi ngân sách.
  • Đề xuất giải pháp có tính hệ thống: Đưa ra các khuyến nghị bám sát Nghị quyết số 07-NQ/TW và các Nghị quyết điều hành kinh tế - xã hội của Chính phủ, chú trọng giải quyết xung đột mục tiêu giữa mở rộng đầu tư công và kiểm soát an toàn nợ công, lạm phát.
  • Đóng góp học thuật: Khóa luận kế thừa và cập nhật các nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu giai đoạn 2000–2013 của Vũ Nhữ Thăng hay Nguyễn Ngọc Thạch) bằng việc phân tích chuỗi dữ liệu thực tế giai đoạn 2013–2017, cung cấp góc nhìn đa chiều về cơ chế tương tác tài khóa - tiền tệ trong điều kiện kinh tế phục hồi sau suy giảm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả tự nhận định do thời gian thực hiện có hạn, trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn của bản thân còn hạn chế nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót. Về mặt phương pháp, nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh định tính, chưa xây dựng hoặc ước lượng các mô hình kinh tế lượng chuyên sâu (như VAR, SVAR hay ECM) để kiểm định định lượng mức độ tác động tương hỗ giữa các biến số tài khóa và tiền tệ của riêng bộ dữ liệu 2013–2017.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Dựa trên phạm vi nghiên cứu, các công trình tiếp theo có thể mở rộng ứng dụng mô hình định lượng để đo lường cụ thể độ trễ chính sách và tác động lan tỏa của các cú sốc tài khóa/tiền tệ tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2018 trở đi.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản lý Tài chính, Kinh tế học vĩ mô và Quản lý Kinh tế khi nghiên cứu về chính sách vĩ mô của Nhà nước.
  • Người nghiên cứu thực hiện các đề tài liên quan đến: cơ chế phối hợp CSTK - CSTT, quản lý ngân sách nhà nước, an toàn nợ công và điều hành các công cụ tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình IS – LM trong phân tích phối hợp chính sách (Chương 1) và toàn bộ chuỗi số liệu thực trạng thu - chi NSNN, nợ công, lạm phát giai đoạn 2013 – 2017 (Chương 2).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng mô hình lý thuyết nào để phân tích mức độ phối hợp giữa CSTK và CSTT?
Tác giả sử dụng mô hình IS – LM để phân tích sự tương tác giữa thị trường hàng hóa và thị trường tiền tệ dưới 3 trường hợp phối hợp: (i) CSTK và CSTT cùng mở rộng nhằm tăng nhanh sản lượng và ổn định lãi suất; (ii) CSTK và CSTT cùng thắt chặt nhằm kìm hãm kinh tế tăng trưởng nóng; (iii) CSTK mở rộng kết hợp CSTT thắt chặt nhằm duy trì tăng trưởng hợp lý mà không gây lạm phát cao.

2. Tỷ lệ bội chi ngân sách và nợ công của Việt Nam diễn biến như thế nào trong giai đoạn 2013 – 2017?
Bội chi NSNN giảm liên tục từ mức 6,6% GDP (2013) xuống 6,48% GDP (2014) và đạt 3,48% GDP (2017 - mức thấp nhất trong 10 năm). Nợ công tăng từ 54,2% GDP (2013) lên 64% GDP (2015), sau đó giảm dần về mức 62,6% GDP vào năm 2017. Tốc độ tăng nợ công bình quân giai đoạn 2011–2015 là 18,4%, giảm xuống 15% (2016) và 9% (2017).

3. Thực trạng cơ cấu chi NSNN trong giai đoạn 2013 – 2017 bộc lộ vấn đề gì?
Chi thường xuyên luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng trong tổng chi ngân sách (chiếm 71% năm 2014 và đạt 77,9% năm 2016). Tình trạng này cùng với gánh nặng trả nợ gia tăng (nghĩa vụ trả nợ chiếm 25% thu NSNN năm 2014 và 31% năm 2015) đã gây áp lực cắt giảm các khoản chi đầu tư phát triển, làm ảnh hưởng đến tiềm năng tăng trưởng trung và dài hạn.

4. Khóa luận đã phân tích kinh nghiệm phối hợp chính sách của những quốc gia nào?
Khóa luận phân tích bài học kinh nghiệm từ 3 quốc gia: Singapore (CSTK thận trọng, thặng dư hợp lý, chính sách thuế ưu đãi kết hợp kiểm soát lạm phát dài hạn ở mức 2,1%/năm), Nhật Bản (kết hợp các gói kích thích tài khóa 75.000 tỷ Yên với chính sách duy trì lãi suất 0 - 0,1% của BOJ) và Trung Quốc (CSTK tích cực kết hợp CSTT ổn định).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Dịu đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ. Thông qua chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 2013 – 2017, công trình đã làm rõ những thành tựu phục hồi tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn về cơ cấu chi thường xuyên, nghĩa vụ nợ và cơ chế chia sẻ thông tin. Các khuyến nghị và định hướng cho giai đoạn 2018 – 2025 được đề xuất bám sát các chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế và các cam kết an toàn tài chính quốc gia.