chương 1 Nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của CSTT trong việc tìm kiếm sự ổn định vĩ mô tại Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu này xây dựng một mô hình Keynes mới cho nền kinh tế mở nhỏ với cách tiếp cận SVAR và DSGE. Nghiên cứu này một lần nữa sử dụng mô hình Keynes mới với đặc tính cỡ mẫu nhỏ của tham số cấu trúc (Seonghoon & Antonio, 2014), đánh giá sự kết hợp giữa các cú sốc cấu trúc (structural shocks) và kỳ vọng hợp lý của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm xem xét phản ứng của các biến số vĩ mô trước tác động từ các cú sốc của chính nó. Đồng thời nghiên cứu cũng đánh giá sự phù hợp về phương pháp tiếp cận và tính tương thích giữa lí thuyết và dữ liệu thực tế nhằm xây dựng một mô hình dự báo có ý nghĩa cho Việt Nam.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH KEYNES MỚI 2. Cơ sở lý thuyết về chính sách an toàn vĩ mô 2. Ổn định tài chính Để thống nhất quan điểm về nội hàm của thuật ngữ này, trong phạm vi luận án, ổn định tài chính là một trạng thái trong đó hệ thống tài chính gồm các trung gian tài chính, thị trường và hạ tầng tài chính có khả năng chống đỡ được các cú sốc và những rủi ro do sự mất cân đối tài chính gây ra, từ đó làm giảm bớt khả năng sụp đổ của các trung gian tài chính vốn sẵn có tác động tiêu cực đối với việc phân bổ tiết kiệm và đầu tư (NHTW châu Âu). Trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng chỉ tiêu TTTD (credit growth - CRD) như là một chỉ số đo lường sự ổn định tài chính, theo Kim & ctg (2016a) điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đây về việc đóng góp của TTTD quá mức đối với khủng hoảng ngân hàng – một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự bất ổn định tài chính trong quá khứ (Borio & Lowe, 2002; Borio & Drehmann, 2009; Kaminsky & Reinhart, 1999; Schularick & Taylor, 2012).
Chính sách an toàn vĩ mô Theo Hội đồng ổn định tài chính (FSB), Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), chính sách ATVM (nằm trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô) sử dụng các công cụ an toàn để hạn chế các rủi ro mang tính hệ thống và/hoặc các rủi ro đối với tổng thể hệ thống tài chính nhằm giảm thiểu khả năng đổ vỡ của hệ thống thông qua việc ngăn ngừa các dịch vụ tài chính có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế thực (IMF, 2013a). Cuối cùng, bên cạnh CSTT và CSTK thì CSATVM giúp NHTW tạo nên bộ ba trong việc điều hành kinh tế vĩ mô, đã và đang được áp dụng tại các nước phát triển và thị trường mới nổi. Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ 2. Khái niệm CSTT là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền được biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra (Lý Hoàng Ánh & Lê Thị Mận, 2012).
CSTT là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế vĩ mô, bao gồm các quan điểm, chủ trương, đường lối để quản lý và điều tiết tiền tệ trong nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng với vai trò chủ đạo là Ngân hàng Nhà nước. Kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ Bên cạnh việc tóm lược lại các kênh truyền dẫn của CSTT, nghiên cứu tập trung trình bày về kênh kỳ vọng hợp lý, một khái niệm cơ bản của trường phái Cổ điển Mới có khuynh hướng được hấp thu bởi trường phái Keynes mới (Nguyễn Đức Thành, 2010). Các nguyên tắc cơ bản về chính sách tiền tệ Các nguyên tắc cơ bản dẫn xuất từ lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm của hầu hết các NHTW: (1) Lạm phát thì luôn tồn tại trong nền kinh tế (Friedman & Meiselman, 1963; Mishkin, 2010a); (2) Ổn định giá cả có những lợi ích quan trọng; (3) Không có sự đánh đổi trong dài hạn giữa lạm phát và thất nghiệp; (4) Kỳ vọng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lạm phát và trong cơ chế truyền dẫn CSTT cho nền kinh tế vĩ mô; (5) lãi 7 suất thực tăng khi lạm phát tăng, i., quy tắc Taylor; (6) CSTT phụ thuộc vào vấn đề thời gian không nhất quán; (7) Sự độc lập của NHTW giúp cải thiện hiệu quả của CSTT; (8) Cam kết với một neo danh nghĩa vững là cơ sở để đi đến các chính sách tiền tệ có kết quả tốt; (9) các ma sát tài chính (lực cản tài chính) đóng vai trò quan trọng trong chu kỳ kinh doanh. Mục tiêu của chính sách tiền tệ NHTW thực thi chính sách tiền tệ để hướng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô, tạo việc làm, ổn định hệ thống tài chính nhưng ổn định giá cả vẫn luôn là mục tiêu quan trọng nhất (Cecchetti & Krause 2002; Geraats, 2002; Issing, 2004; Spyromitros & Tuysuz, 2012; Van der Cruijsen & Demertzis, 2007; Jean Louis & Balli, 2013).
Ổn định giá cả (price stability) hay kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài hạn của CSTT. Mục tiêu của chính sách tiền tệ Công cụ của Mục tiêu trung Công cụ chính sách Mục tiêu cuối cùng NHTW gian - Hoạt động thị - Tổng dự trữ - Tổng phương - Ổn định giá cả. trường mở. Cơ số tiền tệ (tổng dự tiện thanh toán - Việc làm cao.
- Hoạt động cho trữ + tiền bên ngoài (M1, M2, M3). - Tăng trưởng kinh tế. vay của NHTW. - Ổn định lãi suất.
- Dự trữ bắt LSCS (lãi suất ngắn hạn - Ổn định thị trường buộc. như lãi suất qua đêm, lãi ngoại hối. suất liên ngân hàng). Lý thuyết cân bằng tổng thể Lý thuyết cân bằng tổng thể là một nhánh của kinh tế học, giải thích cung, cầu và mức giá của cả một nền kinh tế với nhiều thị trường tương tác với nhau, thông qua việc chứng minh rằng tương tác của cầu và cung sẽ dẫn đến trạng thái cân bằng tổng thể của cả một nền kinh tế.
Lý thuyết về tổng cung – tổng cầu Dựa trên lý thuyết của Mishkin (2012) và Nguyễn Văn Ngọc (2009), nghiên cứu cho thấy trái ngược với chính sách ổn định kinh tế, biến động của nền kinh tế nói chung bắt nguồn từ những thay đổi của tổng cung và tổng cầu. Những thay đổi ngoại sinh của các đường cong tổng cầu và tổng cung là cú sốc đối với nền kinh tế. Các cú sốc phá vỡ sự ổn định vĩ mô, khiến sản lượng và việc làm mất cân bằng. Do đó, các nghiên cứu về cú sốc cung và cầu nhằm đánh giá xem chính sách kinh tế vĩ mô có thể giảm thiểu tác động mà các cú sốc gây ra cho nền kinh tế.
Lý thuyết về cung tiền và lạm phát Theo lý thuyết về lượng tiền của Milton Friedman, mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát được thể hiện qua phương trình định lượng: M *V P *Y Trong đó: M – lượng tiền; V – vòng quay của tiền; P – giá cả; Y – sản lượng (GDP thực tế). Phương trình định lượng có thể viết dưới dạng phần trăm như sau: 8 Hay: % M = % P + % Y – % V (ii) Tại Việt Nam, cung tiền trong nền kinh tế chủ yếu thông qua kênh cho vay của thống NHTM. Như vậy, phương trình (ii) cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế thực và tỷ lệ lạm phát sẽ quyết định tỷ lệ TTTD trong nền kinh tế. Lý thuyết về khuôn khổ CSTT lạm phát mục tiêu 2.
Cơ sở lý thuyết Theo Hạ Thị Thiều Dao (2012), CSTT theo cơ chế lạm phát mục tiêu (LPMT) là chính sách mà NHTW sẽ trực tiếp và công khai đưa ra mức (khung) lạm phát làm mục tiêu ưu tiên hàng đầu và trực tiếp. Lạm phát là chỉ tiêu duy nhất được cụ thể hóa bằng số trong khi các mục tiêu khác như toàn dụng nhân công, hoặc giảm biến động tỷ giá hối đoái cũng được theo đuổi nhưng không phải là mục tiêu ưu tiên. Ngược với CSTT theo cơ chế LPMT, các CSTT theo cơ chế khác thường tác động gián tiếp đến lạm phát thông qua mục tiêu tổng cung tiền hoặc mục tiêu tỷ giá. Đặc điểm và các yếu tố chính của CSTT lạm phát mục tiêu Hệ thống lạm phát mục tiêu có 3 đặc điểm quan trọng (Lars, 1999): (i) NHTW xác định rõ mức lạm phát mục tiêu mà mình hướng đến; (ii) Quốc gia có khung chính sách rõ ràng để ra quyết định kinh tế, ra quyết định về mục tiêu lạm phát; (iii) NHTW có tính minh bạch và trách nhiệm cao trong việc thực thi chính sách.
Các đặc điểm và yếu tố trong nghiên cứu tựu chung lại cũng chính là ba yếu tố then chốt mà Mishkin (2014) muốn đề cập là sự độc lập của NHTW, tính minh bạch của chính sách và sự tin cậy của NHTW trong thực thi chính sách. Mục đích của chính sách lạm phát mục tiêu Theo Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2014) thì xác định mức lạm phát mà NHTW hướng đến, từ đó giúp xác định lạm phát mong đợi trong các thành phần của nền kinh tế và giúp cho nền kinh tế vĩ mô ổn định. Các điều kiện áp dụng chính sách lạm phát mục tiêu Việt Nam chưa sẵn sàng để thực thi chính sách LPMT ở thời điểm hiện tại do mối quan hệ giữa các công cụ của CSTT và lạm phát tại Việt Nam không mạnh mẽ, không ổn định và khó dự đoán (Nguyễn Thị Mỹ Phượng, 2016). Hay nói cách khác, xét về điều kiện cần và đủ để Việt Nam thực hiện chính sách LPMT là chưa chín muồi (Hoàng Hải Yến & Vũ Thị Lệ Giang, 2011; Trần Hoàng Ngân, Vũ Thị Lệ Giang & Hoàng Hải, 2013).
Những lý luận cơ bản về mô hình Keynesian mới 2. Tổng quan về cấu trúc mô hình Keynesian mới Kydland & Prescott (1982) đưa ra mô hình chu kỳ kinh doanh thực (Real Business Cycle – RBC) với nền tảng kinh tế vi mô trong đó các hộ gia đình tối ưu hóa lợi ích với ràng buộc về thu nhập, doanh nghiệp tối đa hóa lợi nhuận trong ràng buộc về các yếu tố đầu vào như tối thiểu hóa chi phí dựa trên ràng buộc về vốn, lao động và công nghệ, xã hội tối đa hóa phúc lợi xã hội.