Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT & BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU ỨNG TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN LẠM PHÁT 1.1 Tổng quan tình hình thâm hụt cán cân thương mại giai đoạn 2000- 2012 và chính sách tỷ giá của Việt Nam Việc nước ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO vào tháng 11/2006 mở ra một thời kỳ hội nhập sâu rộng chưa từng có, khiến mức độ giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng. Tuy nhiên, nếu xét về con số tuyệt đối, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ luôn bị nhập siêu trong giai đoạn 2000 – 2012. Có thời điểm nhập siêu tăng với tốc độ cao như trong giai đoạn 2007 – 2010 với mức nhập siêu bình quân hơn 16 tỷ USD/năm. Một trong những nguyên nhân chủ yếu được xét đến của giai đoạn này là đánh dấu bước hội nhập của kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO.
Tình hình thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000-2012 được khái quát trong biểu đồ sau: Đồ thị 1.1: Tình hình thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam giai đoạn 2000-2012 123doc 6 Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng liên tục tăng. Biểu đồ bên dưới hiển thị tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011 14000 12000 10000 8000 6000 4000 2000 0 Đồ thị 1.2: Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam (đơn vị: triệu USD). Nguồn: tổng hợp từ GSO Trong bối cảnh đó, tỷ giá hối đoái nổi lên như một công cụ quan trọng trong việc ổn định giá trị tiền đồng và ổn định kinh tế vĩ mô. Một cơ chế quản lý tỷ giá phù hợp sẽ góp phần thu hút đầu tư từ bên ngoài, kể cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp, góp phần đảm bảo một chính sách tiền tệ độc lặp và chính sách tài chính vững mạnh, giải quyết một cách hiệu quả và chủ động các vấn đề như ổn định ngân sách, ổn định giá trị đồng tiền…Tỷ giá hối đoái cũng cho phép chúng ta so sánh giá cả của hàng hóa và dịch vụ ở những nước khác nhau.
Về mặt phân loại, tỷ giá hối đoái bao gồm: tỷ giá hối đoái danh nghĩa, tỷ giá hối đoái thực, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương, tỷ giá hối đoái thực đa phương. Trong đó, tỷ giá hối đoái thực đa phương là thước đo phản ánh chính xác sức mua của đồng nội tệ hơn cả. Tỷ giá hối đoái thực giảm, làm cho sức 123doc 7 mua tương đối của tiền VNĐ tăng lên, nên tiền VNĐ lên giá thực, khi đó mỗi một đồng tiền Việt Nam sẽ mua được nhiều hàng hóa hơn ở nước ngoài so với trong nước; hay nói cách khác, tỷ giả hối đoái thực tăng sẽ khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, do hàng hóa nước ngoài trở nên đắt hơn so với hàng hóa Việt Nam. Ngược lại, nếu tiền VNĐ được định giá thực cao sẽ hạ thấp vị thế cạnh tranh thương mại của Việt Nam so với các nước bạn hàng, làm tăng nhập khẩu, giảm xuất khẩu.
Có nhiều công cụ khác nhau để thực hiện cơ chế tác động của chính sách tỷ giá hối đoái. Ngoài các biện pháp có tính chất hành chính mà các nước thường dùng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái thì có hai công cụ cơ bản và mang tính kinh tế thuần túy thường được các nước phát triển sử dụng để can thiệp vào điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Hai công cụ đó là lãi suất chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở. - Công cụ lãi suất tái chiết khấu: dùng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái với mong muốn tạo ra sự thay đổi tức thời về tỷ giá.
Lãi suất tái chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất thị trường, làm thay đổi hướng chảy của các dòng vốn đầu tư bằng việc các nhà đầu tư trong một nước sẽ chuyển đổi đồng tiền mình đang sở hữu sang đồng tiền có lãi suất cao hơn, cung - cầu ngoại tệ thay đổi làm cho tỷ giá thay đổi theo (phân tích trong ngắn hạn). Cụ thể, khi lãi suất trong nước tăng, dòng vốn ngắn hạn trên thị trường tài chính quốc tế sẽ đổ vào trong nước, các nhà đầu tư trong nước cũng chuyển vốn của mình sang đồng nội tệ. Ngược lại, khi muốn điều chỉnh tỷ giá hối đoái tăng, ta sẽ tiến hành giảm lãi suất tái chiết khấu. - Công cụ nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ: là hoạt động của NHNN can thiệp vào thị trường ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Các Chính phủ thực hiện can thiệp vào tỷ giá hối đoái thông qua việc điều chỉnh mức dự trữ 123doc 8 ngoại tệ. Tùy theo mục tiêu muốn tăng hay giảm giá đồng nội tệ mà NHNN sẽ bán ra hay mua vào đồng ngoại tệ, thay đổi mức dự trữ ngoại tệ và thay đổi tỷ giá hối đoái. Có hai khả năng có thể xảy ra khi NHNN tiến hành can thiệp vào thị trường ngoại hối. Đó là, can thiệp hữu hiệu và can thiệp vô hiệu hóa: (1) Can thiệp hữu hiệu của Chính phủ vào thị trường ngoại hối diễn ra khi NHNN tiến hành mua, bán đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối, nhờ đó làm thay đổi cơ số tiền, làm thay đổi mức cung tiền, lãi suất và làm thay đổi tỷ giá hối đoái.
(2) Can thiệp vô hiệu hóa sẽ diễn ra khi hành động mua bán này của NHTW được phối hợp với nghiệp vụ thị trường mở trên thị trường tiền tệ tương ứng. Việc mua bán đồng nội - ngoại tệ diễn ra đồng thời với việc mua bán chứng khoán. Kết quả của sự phối hợp các nghiệp vụ này chỉ dẫn đến sự thay đổi trong mức dự trữ quốc tế của một nước, chứ không làm thay đổi mức cung tiền và do đó không dẫn đến sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái và giá trị của các đồng tiền. Trong những năm qua, NHNN đã liên tục điều chỉnh tỷ giá, cụ thể được cho ở bảng sau : Bảng 1.1: Tỷ giá bình quân liên ngân hàng và chỉ số lạm phát ở Việt Nam 2007-2012.
Nguồn : NHNN và Tổng cục thống kê Tỷ giá bình Tăng/ giảm so với Chỉ số lạm Năm quân liên NH (VNĐ/ năm trước (%) phát (%) USD) 2007 16,114 100% 100% 2008 16,987 + 5.81 123doc 9 Tuy nhiên, việc sử dụng công cụ tỷ giá hối đoái đòi hỏi một sự thận trọng cao độ vì những sự tác động của nó đến ngoại thương và lạm phát là rất sâu rộng. Đối với ngoại thương, tỷ giá hối đoái thay đổi tác động lên cơ cấu, kim nghạch xuất khẩu, sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu, cơ cấu, kim nghạch nhập khẩu. Đối với lạm phát, tỷ giá hối đoái thay đổi ảnh hưởng đến sự ổn định của giá cả. Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế vĩ mô những năm gần đây, lạm phát luôn là một vấn đề nhức nhối mà các nhà hoạch định và quản lý kinh tế ở Việt Nam phải đối mặt.
Vấn đề này sẽ được tác giả đề cập sâu hơn trong phần sau của đề tài.2 Lý thuyết hiệu ứng truyền dẫn tỷ giá hối đoái tác động lên lạm phát ở Việt Nam 1.1 Công thức tính lạm phát Theo Mankiw, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Tỷ lệ lạm phát được tính toán rộng rãi bằng cách tính toán sự thay đổi trong chỉ số giá, thường là chỉ số giá tiêu dùng (CPI).
Ví dụ, để tính toán tỷ lệ lạm phát năm 2012, ta có công thức sau: CPI 2013 _ 01 CPI 2012 _ 01 2012 100% CPI 2012 _ 01 Trong đó, 2012 : lạm phát năm 2012 123doc 10 CPI2012_01 , CPI2013_01 : chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 năm 2012, chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 năm 2013 1.2 Thực trạng và tranh luận về nguyên nhân gây ra lạm phát Nền kinh tế Việt Nam trong một thời gian dài phải đối mặt với vấn đề lạm phát tăng cao, làm cho giá hàng hóa tiêu dùng tăng đáng kể, ảnh hưởng đến chất lượng dân sinh. Kể từ năm 2000, lạm phát liên tục tăng và gần như bùng nổ vào năm 2008. Việc kiểm soát vĩ mô trong giai đoạn này tỏ ra lúng túng. Cộng với những tác động to lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, trong hai năm 2008-2009, nền kinh tế phải hứng chịu thời kỳ tăng trưởng kinh tế ở mức thấp đi liền với lạm phát cao.
Tốc độ tăng CPI trong giai đoạn 2000- 2012 được hiển thị trong đồ thị bên dưới: 25 20 15 10 5 0 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 -5 Đồ thị 1.3: Tốc độ tăng CPI của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2012 (đơn vị tính: % ). Nguồn: tổng hợp từ GSO. Nguyên nhân của việc lạm phát tăng cao trong giai đoạn này được tranh luận với những ý kiến trái chiều như sau: (1) Lạm phát tăng cao là do tính toán các chỉ số giá. Lạm phát cao bắt nguồn từ tỷ trọng của các hàng hóa thiết yếu trong rổ hàng hóa tính chỉ số giá tiêu 123doc 11 dùng (CPI) là quá cao và có thể không còn phù hợp.
Vì thế cần phải thay đổi tỷ trọng này hoặc phải có một chỉ số nào đó trung thực hơn, ví dụ như tính lạm phát cơ bản (core inflation). (2) Lạm phát tăng cao là do nhập khẩu. Giai đoạn lạm phát Việt Nam tăng cao cũng là lúc giá dầu thô trên thế giới tăng cao kéo theo giá cả của một loạt mặt hàng tăng lên nhanh chóng. Do vậy nó ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam.
(3) Lạm phát là do hiện tượng tiền tệ. Điều này hàm ý rằng lạm phát trong nền kinh tế tăng nhanh là do in quá nhiều tiền, mọi nguyên nhân khác đều là thứ yếu hoặc một cú sốc tạm thời. (4) Do kỳ vọng lạm phát. Người dân có xu hướng lưu giữ ấn tượng về các lạm phát trong quá khứ, đồng thời có kỳ vọng nhạy cảm về lạm phát trong tương lai.
Kỳ vọng này chi phối mức lạm phát hiện tại. (5) Do sự chênh lệch sản lượng. Mức chênh lệch sản lượng dương hàm ý rằng nền kinh tế phát triển nóng, nghĩa là mọi nguồn lực trong nền kinh tế đều đã được sử dụng tối đa.