Đặt vấn đề Môi trường sinh thái đang là vấn đề mà cả toàn nhân loại quan tâm, nó có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏe, đời sống con người. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định một trong bốn vấn đề quan trọng và cấp thiết nhất đối với thế giới là môi trường và hệ sinh thái. Nhưng có một hiện trạng đang diễn ra hiện nay đó là môi trường của chúng ta đang bị ô nhiễm và suy thoái trầm trọng. Sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới trong thời gian qua đã có những tác động lớn đến môi trường, đã làm cho môi trường sống của con người bị thay đổi và ngày càng trở nên tồi tệ hơn.
Hiện nay, du lịch đã và đang trở thành một nhu cầu trong đời sống văn hóa xã hội của con người. Trong những năm gần đây, hòa chung vào xu thế phát triển của ngành du lịch thế giới, du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, dần tạo lập được vị thế trong khu vực cũng như trong con mắt bạn bè quốc tế, đóng góp một phần đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội đất nước. Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực mà du lịch đem lại thì du lịch cũng đang bộc lộ những mặt trái tác động không nhỏ đến tài nguyên môi trường. Theo báo cáo sơ bộ của Thanh tra Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch thực hiện với 23 điểm, khu du lịch tại 5 tỉnh thành phố là Lào Cai, Hải Dương, Quảng Ninh, Điện Biên, Ninh Bình đã đưa ra nhiều con số gây sốc.
Có tới 22/23 đơn vị hoạt động du lịch không có giấy phép xả thải do Sở Tài nguyên - Môi trường cấp; 20/23 đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch không xây dựng kế hoạch, chương trình hành động bảo vệ môi trường hàng năm. n 2 Trong đó nhiều khu du lịch sử dụng nguồn nước khoáng để kinh doanh nhưng lại chưa có kế hoạch bảo vệ và phát triển bền vững môi trường. Để đánh giá một cách đầy đủ và tổng thể về nguyên nhân, hiện trạng, diễn biến và tác động đến môi trường trong quá trình sống của con người thì việc sử dụng mô hình DPSIR sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan các vấn đề môi trường cũng như minh họa và làm rõ những mối quan hệ nhân – quả, nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả của chúng và các biện pháp ứng phó cần thiết. Ngoài ra, mô hình DPSIR còn được vận dụng trong xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường cũng như trong xây dựng các chỉ thị môi trường.
(Lê Thạc Cán, 2005)[4] Khu Du lịch suối khoáng Mỹ Lâm nằm trên địa phận xã Phú Lâm thuộc huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang, cách thành phố Tuyên Quang 13 km về phía Tây Nam là một khu du lịch tắm nước khoáng nóng được nhiều người biết đến, hàng ngày đón tiếp rất nhiều lượt khách du lịch đồng thời cũng cũng thải ra một lượng lớn chất thải. Điều này đã gây áp lực cho môi trường làm cho môi trường bị thay đổi. Trong đó nguyên nhân lớn nhất gây biến đổi môi trường là do con người, mà trước hết là các loại chất thải do con người thải ra môi trường như nước thải, các loại chất thải rắn… và đặc biệt là việc khai thác tài nguyên không theo kế hoạch. Để hiểu rõ về tình trạng môi trường khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm thì việc xây dựng chỉ thị môi trường dựa trên mô hình DPSIR là một cách hữu hiệu nhất.
Các chỉ thị này cho phép hiểu rõ nguyên nhân sâu xa gây ô nhiễm, áp lực tạo ô nhiễm, tình trạng ô nhiễm, tác động của ô nhiễm đối với người và đánh giá hiệu quả của các đáp ứng của xã hội với tình trạng ô nhiễm này. n 3 Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường, cùng với sự giúp đỡ của PGS.TS Đỗ Thị Lan em tiến hành nghiên cứu đề tài “Ứng dụng mô hình DPSIR xây dựng chỉ thị môi trường khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu nghiên cứu Sử dụng mô hình DPSIR để xác định các chỉ thị môi trường và xác định các vấn đề liên quan đến công tác quản lý bảo vệ môi trường tại khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội của xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang liên quan đến các vấn đề môi trường.
- Xác định hiện trạng môi trường đất, nước, không khí và đa dạng sinh học tại xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. - Xác định nguyên nhân gây ảnh hưởng đến môi trường ở khu vực nghiên cứu dựa trên nghiên cứu các tác động: lực điều khiển (driving forces), áp lực (pressure), tình trạng (state), tác động (impact), đáp ứng (response). - Xây dựng chỉ thị môi trường dựa trên cơ sở phân tích mô hình DPSIR. - Đề xuất các biện pháp quản lý, giảm thiểu, cải tạo môi trường và chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Phú Lâm, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Mô hình DPSIR là mô hình mô tả mối quan hệ tương hỗ giữa Động lực - D (Phát triển kinh tế - xã hội, nguyên nhân sâu xa của các biến đổi môi trường) - Áp lực - P (Các nguồn thải trực tiếp gây ô nhiễm và suy thoái môi trường) - Hiện trạng - S (Hiện trạng chất lượng môi trường) - Tác động - I (Tác động của ô nhiễm môi trường đối với sức khoẻ cộng đồng, hoạt động n 4 phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái) - Đáp ứng - R (Các giải pháp bảo vệ môi trường). Đề tài nghiên cứu ứng dụng mô hình DPSIR trong việc xây dựng chỉ thị môi trường tại khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm, huyện Yên Sơn, thành phố Tuyên Quang. - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
- Vận dụng và phát huy kiến thức đã học tập. - Là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa thực tiễn - Là cơ sở để lựa chọn và áp dụng các biện pháp quản lý môi trường phù hợp với điều kiện của địa phương. - Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý và bảo vệ môi trường tại khu vực sinh sống.
- Đánh giá hiện trạng môi trường, xác định được những tác động, áp lực gây ô nhiễm môi trường và mức độ ảnh hưởng của chúng tới môi trường khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm. - Xây dựng được bộ chỉ thị môi trường phục vụ cho công tác đánh giá chất lượng môi trường, quy hoạch và quản lý môi trường khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm. - Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý và bảo vệ môi trường tại khu vực sinh sống. n 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Một số khái niệm - Môi trường gồm nhân tố vật chất do con người tạo ra và tự nhiên xung quanh chúng ta tác động đến cuộc sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người, sinh thể sống. (Luật Bảo vệ môi trường 2005)[12] - Bảo vệ môi trường gồm các hoạt động bảo vệ cho một môi trường xanh, sạch, đẹp, nâng cao chất lượng môi trường, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn và giải quyết được các tác động của con người và tự nhiên đến môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý, một cách có kinh tế nguồn tài nguyên thiên nhiên. (Luật Bảo vệ môi trường 2005)[12] - Ô nhiễm môi trường là việc làm biến đổi tài sản của môi trường, tác động xấu và phá vỡ các tiêu chuẩn môi trường.
(Thông tư 08/2010/TT–BTNMT)[2] - Theo UNEP: Chỉ thị môi trường (Environmeltal Indicator) là một độ đo tập hợp một số số liệu về môi trường ngành một thông tin tổng hợp (Aggregate) về một khía cạnh của một quốc gia hoặc một địa phương. - Chỉ thị môi trường: Là thông số cơ bản phản ánh các yếu tố đặc trưng của môi trường phục vụ mục đích đánh giá, theo dõi diễn biến chất lượng môi n 6 trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường. (Thông tư 08/2010/TT–BTNMT)[2] [2] - Các loại chỉ thị môi trường theo mô hình DPSIR: Gồm 5 loại chỉ thị môi trường. + Các chỉ thị về động lực (D) phát triển kinh tế - xã hội, gây biến đổi áp lực đối với môi trường.
+ Các chỉ thị về áp lực (P) về chất thải ô nhiễm gây biến đổi hiện trạng môi trường. + Các chỉ thị về hiện trạng (S) môi trường (chất lượng/ô nhiễm môi trường). + Các chỉ thị về tác động (I) của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe, cuộc sống của con người, đối với các hệ sinh thái và đối với kinh tế - xã hội. + Các chỉ thị về đáp ứng (R) của nhà nước, xã hội và con người (chính sách, biện pháp, hành động) nhằm giảm thiểu các động lực, áp lực, gây biến đổi môi trường.
(Thông tư 09/2009/TT - BTNMT)[1] - Trong mô hình DPSIR đối với nghiên cứu hiện trạng môi trường quốc gia hoặc bộ, ngành, địa phương các chỉ thị có thể phân theo nhóm (loại) sau: + Chỉ thị mô tả: mô tả mức độ gia tăng của các yếu tố về nhân lực, thiết bị, phương tiện… có thể gây ra các áp lực về môi trường. + Chỉ thị đánh giá hoạt động: Bao gồm các chỉ thị phản ánh sự thay đổi chất lượng môi trường do các hoạt động của địa phương đó gây ra. + Chỉ thị hiệu quả: phản ánh mối quan hệ trong chuỗi nhân quả giữa các thành phần trong mô hình DPSIR. Chỉ thị hiệu quả phù hợp nhất cho quá trình hoạch định chính sách là các chỉ thị liên quan giữa áp lực môi trường (P) và các hoạt động của con người (D).
Những chỉ thị này cho thấy rõ tính hiệu quả môi trường của quy trình sản xuất và của chính các sản phẩm, ví dụ hiệu quả trong sử dụng tài nguyên, lượng phát thải, chất thải trên mỗi đơn vị sản lượng. n 7 + Chỉ thị đáp ứng: Phản ánh hành động đáp ứng của đơn vị trong quản lý môi trường, cải thiện chất lượng môi trường. + Chỉ thị đánh giá độ bền vững môi trường: Là tập hợp nhiều thông số đặc trưng về môi trường cho phép đánh giá tổng hợp tình trạng môi trường của đơn vị nào đó.