CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU VỀ MÔ HÌNH 3 LỚP Trong phát triển ứng dụng, để dễ quản lý các thành phần của hệ thống, cũng như không bị ảnh hưởng của các thay đổi, người ta hay nhóm các thành phần có cùng chức năng lại với nhau và phân chia trách nhiệm cho từng nhóm để công việc không bị chồng chéo và ảnh hưởng lẫn nhau. Ví dụ trong một công ty bạn có một phòng ban, mỗi phòng ban sẽ chịu trách nhiệm một công việc cụ thể nào đó, phòng này không được can thiệp vào công việc nội bộ của phòng kia như phòng tài chính thì chỉ phát lương, còn chuyện lấy tiền đâu ra phát cho các anh phòng marketing thì các anh không cần biết. Trong phát triển phần mềm, chúng ta cũng áp dụng các phân chia chức năng này.
Bạn sẽ nghe nói đến kiến trúc đa tầng/nhiều lớp, mỗi lớp sẽ thực hiện một chức năng nào đó, trong đó mô hình 3 lớp là phổ biến nhất. 3 lớp này là gì? Là Presentation, Business Logic và Data Access. Các lớp này sẽ giao tiếp với nhau thông qua các dịch vụ( services) mà mỗi lớp cung cấp để tạo nên ứng dụng, lớp này cũng không cần biết bên trong lớp kia làm những gì mà chỉ cần biết lớp kia cung cấp dịch vụ gì cho mình và sử dụng nó mà thôi.1 Giới thiệu các thành phần của mô hình 3 lớp Mô hình 3 lớp gồm các thành phần sau: 3 1.2 Lớp giao diện – GUI (Graphic User Interfac) Layer: Đây chính là giao diện sử lý của ứng dụng, nhiệm vụ chính của lớp này là nhập liệu va trình bày dữ liệu, chỉ thuần xử lý việc giao tiếp với người sử dụng, nhập xuất,… mà không thực hiện việc tính toán, kiểm tra, xử lý, hay các thao tác liên quan đến cơ sở dữ liệu.3 Lớp xử lý nghiệp vụ - Business Logic Layer: Lớp này chuyên thực hiện các xử lý, kiểm tra các ràng buộc, các qui tắc ứng xử của phần mềm, các chức năng cốt yếu,… Việc thực hiện này độc lập với cách thiết kế cũng như cài đặt giao diện. Thông tin cho lớp này thực hiện các xử lý của mình được lấy từ lớp giao diện.4 Lớp xử lý dữ liệu - Data Access Layer: Lớp này chuyên thực hiện các công việc liên quan đến dữ liệu.
Dữ liệu có thể lấy từ cơ sở dữ liệu (Access, SQL Server …) hoặc tập tin (text, binary, XML …). Đối với cơ sở dữ liệu, lớp này thực hiện kết nối trực tiếp với cơ sở dữ liệu và thực hiện tất cả các thao tác liên quan đến cơ sở dữ liệu mà phần mềm cần thiết. Đối với tập tin, lớp này thực hiện việc đọc, ghi tập tin theo yêu cầu của phần mềm. Việc thực hiện này do lớp xử lý gọi.
Rõ ràng, với mô hình này, các công việc của từng lớp là độc lập với nhau. Việc thay đổi ở một lớp không làm thay đổi các lớp còn lại, thuận tiện hơn cho quá trình phát triển và bảo trì phần mềm. Trong 1 số trường hợp vì lượng thông tin gởi nhiều ta có thể dùng Data Tranfer Object (DTO) để chuyển đối tượng hoặc danh sách đối tượng giữa các lớp với nhau cho tiện dụng. DTO chính là các bảng trong CSDL.5 Giao tiếp giữa các lớp 1.1 Quá trình hiển thị dữ liệu Lớp xử lý dữ liệu (Data Access Layer) giao tiếp với cơ sở dữ liệu và lấy dữ liệu lên theo một cách nào đó (có thể là bằng câu lệnh select hay thông qua thủ tục), lúc này sau khi lấy được dữ liệu lên thì nó sẽ đẩy lên lớp xử lý nghiệp vụ (Business Logic Layer).
Tại đây nhiệm vụ được sử lý rồi đẩy nó lên trên lớp giao diện (Graphic User Interfac) và tại lớp giao diện nó sẽ hiển thị lên cho người dùng.2 Quá trình đưa dữ liệu xuống CSDL Người dùng thao tác với lớp giao diện (Graphic User Interfac) sau đó ra lệnh thực hiện (ví như cài đặt), sau đó hệ thống sẽ kiểm tra các thông tin người dùng nhập vào. Nếu thỏa, thì đi xuống tiếp lớp xử lý nghiệp vụ (Business Logic Layer) để tiếp tục được nhào nặn, tính toán và kiểm tra. Sau khi xong thì dữ liệu được đẩy xuống thông tin phía dưới lớp xử lý dữ liệu (Data Access Layer) sau đó tại lớp xử lý dữ liệu sẽ thực thi nó xuống cơ sở dữ liệu. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÍ NHÂN SỰ 2.1 Tìm hiểu sơ lược về hệ thống thông tin quản lý 2.1 Tìm hiểu sơ lược về thông tin Thông tin là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội.
Điều cơ bản là con người thông qua việc cảm nhận thông tin làm tăng hiểu biết cho mình và tiến hành những hoạt động có ích cho cộng đồng. Môi trường vận động thông tin là môi trường truyền tin, nó bao gồm các kênh liên lạc tự nhiên hoặc nhân tạo. Kênh liên lạc thường nối các thiết bị của máy móc với nhau hay nối với con người. Con người có hình thức liên lạc tự nhiên và cao cấp là tiếng nói, từ đó nghĩ ra chữ viết.
Ngày nay nhiều công cụ phổ biến thông tin đã xuất hiện: máy in, điện tín, điện thoại, phát thanh truyền hình, phim ảnh….2 Khái niệm thông tin Thông tin là tin tức mà con người trao đổi với nhau, hay nói rộng hơn thông tin bao gồm những tri thức về đối tượng. Theo quan điểm của nhà quản lí thì thông tin là những thông báo, số liệu dùng làm cơ sở cho việc ra các quyết định. Các tài liệu này chia làm 4 loại: Tài liệu, số liệu có ích cho việc ra quyết định: thông tin về năng suất, giá thành, doanh thu … Tài liệu số liệu dùng ra quyết định sau này: thông tin dự trữ. Tài liệu, số liệu không liên quan đến việc ra quyết định: tư liệu, số liệu thừa… Tài liệu, số liệu giả do các đối thủ tung ra gây nhiễu.
Có nhiều cách phân loại thông tin. Chúng ta quan tâm đến cách phân loại dựa vào đặc tính liên tục hay rời rạc của tín hiệu vật lý.3 Các loại thông tin quản lý - Thông tin quản lí là những dữ liệu được xử lí và sẵn sàng phục vụ công tác quản lí của tổ chức. Có 3 loại thông tin quản lí trong 1 tổ chức, đó là thông tin chiến lược, thông tin chiến thuật và thông tin điều hành. - Thông tin chiến lược là: thông tin sử dụng cho chính sách dài hạn của tổ chức, chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lí cao cấp khi dự đoán tương lai.
Loại thông tin này đòi hỏi tính khái quát, tổng hợp cao. Dữ liệu để xử lý ra loại thông tin này thường là từ bên ngoài tổ chức. Đây là loại thông tin được cung cấp trong những trường hợp đặc biệt. - Thông tin chiến thuật: là thông tin sử dụng cho chính sách ngắn hạn, chủ yếu phục vụ cho các nhà quản lí phòng ban trong tổ chức.
Loại thông tin này trong khi cần mang tính tổng hợp vẫn đòi hỏi phải có mức độ chi tiết nhất định dạng thống kê. Đây là loại thông tin cần được cung cấp định kỳ. - Thông tin điều hành: (thông tin tác nghiệp) sử dụng cho công tác điều hành tổ chức hàng ngày và chủ yếu phục vụ cho người giám sát hoạt động tác nghịêp của tổ chức. Loại thông tin này cần chi tiết, được rút ra từ quá trình xử lý các dữ liệu trong tổ chức.
Đây là loại thông tin cần được cung cấp thường xuyên.4 Vai trò của thông tin trong tổ chức Thông tin có vai trò rất quan trọng đối với người lãnh đạo, quản lí trong mọi tổ chức hoạt động để hoàn thành các mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Công việc lãnh đạo và quản lí đòi hỏi thông tin phải chính xác và kịp thời đề ra các quyết định đúng đắn, đem lại hiệu quả trong các hoạt động. Chất lượng và tính kịp thời của thông tin là yếu tố rất quan trọng chỉ sau yếu tố con người trong công việc lãnh đạo và quản lí. Vấn đề chủ yếu hiện nay đang đặt ra cho những người làm công tác lãnh đạo vả quản lí là thường xuyên phải xử lý khối lượng thông tin rất lớn để đề ra được các quyết định đúng đắn.
Với khối lượng thông tin càng lớn và càng đa dạng thì việc xử lý và quản lí thông tin càng khó khăn.2 Khái niệm hệ thống-hệ thống thông tin-hệ thống thông tin quản lí 2.1 Khái niệm hệ thống Hệ thống: là tổng thể gồm các bộ phận hoặc các phần tử khác nhau có mối quan hệ tác động qua lại với nhau và được sắp xếp theo một trình tự nhằm tạo thành một chỉnh thể thống nhất, có những tính chất mới, có khả năng thực hiện một số chức năng hoặc mục tiêu nhất định.2 Các yếu tố cơ bản của hệ thống Đầu ra: Tập hợp các tác động ngược lại của hệ thống lên môi trường. Cấu trúc hệ thống: Là sự sắp xếp các bộ phận hoặc phần tử bên trong của một hệ thống và mối quan hệ qua lại giữa chúng. Mục tiêu của hệ thống: Là trạng thái mong muốn của hệ thống sau một thời gian nhất định.3 Hệ thống thông tin Hệ thống thông tin là một tập hợp nhiều thành phần có chức năng thu thập, lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin để hỗ trợ cho việc làm quyết định điều hành trong một tổ chức. Hệ thống thông tin tối thiểu bao gồm con người, quy trình, và dữ liệu.
Con người tuân theo quy trình để xử lý dữ liệu tạo ra thông tin.4 Hệ thống thông tin quản lý Hệ thống thông tin quản lí là hệ thống có nhiệm vụ cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho việc quản lí điều hành một tổ chức. Thành phần chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống thông tin quản lí là một cơ sở dữ liệu hợp nhất chứa các thông tin phản ánh cấu trúc nội tạng của hệ thống và các thông tin về các hoạt động diễn ra trong hệ thống. Với hạt nhân là cơ sở dữ liệu hợp nhất, hệ thống thông tin quản lí có thể hỗ trợ cho nhiều lĩnh vực chức năng khác nhau và có thể cung cấp cho các nhà quản lí công cụ và khả năng dễ dàng truy cập thông tin, hệ thống thông tin quản lí có các chức năng chính: 8 + Thu nhập, phân tích và lưu trữ các thông tin một cách hệ thống, những thông tin có ích được cấu trúc hoá để có thể lưu trữ và khai thác trên các phương tiện tin học.