Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về ứng dụng lý thuyết thẻ điểm cân bằng trong quản trị đại học. - Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu - Chương 3: Thực trạng ứng dụng BSC tại trường ĐHKT-ĐHQGHN. - Chương 4: Kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng BSC tại trường ĐHKT-ĐHQGHN. Phần III: Kết luận 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC 1.
Chiến lƣợc và thực thi chiến lƣợc 1. Khái niệm chiến lược Khái niệm chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” - nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội. Sau đó, nó phát triển thành “Nghệ thuật của các tướng lĩnh” – nói đến các kỹ năng hành xử và tâm lý của tướng lĩnh.
Đến khoảng năm 330 trước công nguyên, tức là thời Alexander Đại đế, chiến lược dùng để chỉ kỹ năng quản trị để khai thác các lực lượng để đè bẹp đối phương và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Trong lịch sử loài người, rất nhiều các nhà lý luận quân sự như Tôn Tử, Alexander, Clausewitz, Napoleon, Stonewall Jackson, Douglas McArthur đã đề cập và viết về chiến lược trên nhiều góc độ khác nhau. Luận điểm cơ bản của chiến lược là một bên đối phương có thể đè bẹp đối thủ – thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn – nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình. Nhà lý luận quân sự thời cận đại Clawzevit cũng cho rằng: chiến lược quân sự là nghệ thuật chỉ huy ở vị trí ưu thế.
Một xuất bản của từ điển Larous coi chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng. Học giả Đào Duy Anh, trong từ điển tiếng Việt đã viết: Chiến lược là các kế hoạch đặt ra để giành thắng lợi trên một hay nhiều mặt trận. Như vậy, trong lĩnh vực quân sự, thuật ngữ chiến lược nói chung đã được coi như một nghệ thuật chỉ huy nhằm giành thắng lợi của một cuộc chiến tranh. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ "Chiến lược kinh doanh" ra đời.
Quan niệm về chiến lược kinh doanh phát triển dần theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. 5 z Năm 1962, chiến lược được Chandler1 định nghĩa như là “việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này” (Chandler, A, 1962. Strategy and Structure. Cho đến những năm 1980 khi mà môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muồi, Quinn2 đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và các chuỗi hành động vào một tổng thẻ được cố kết một cách chặt chẽ” (Quinn, J.
Strategies for Change: Logical Incrementalism. Homewood, Illinois, Irwin). Sau đó, Johnson và Scholes3 định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” (Johnson, G. Exploring Corporate Strategy, 5th Ed.
Prentice Hall Europe). Chúng ta thấy rằng tất cả các định nghĩa về chiến lược đều xuất hiện các cụm từ biểu thị các khía cạnh khác nhau cần phải bao hàm trong đó. Do đó, cần phải có các định nghĩa đa diện để có thể hiểu rõ hơn lĩnh vực này. Trong định nghĩa chiến lược với 5 chữ P của mình Mintzberg khái quát các khía cạnh quản trị chiến lược như sau: 1 Alfred DuPont Chandler, Jr.
(ngày 15 tháng 9 năm 1918 - 09 tháng 5 năm 2007) là một giáo sư lịch sử kinh doanh tại Trường Kinh doanh Harvard và Đại học Johns Hopkins, người đã viết nhiều về quy mô và cơ cấu quản lý của các tập đoàn hiện đại. Chandler là một trong những người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược. 2 James Brian Quinn, tốt nghiệp MBA tại ĐH Harvard và có bằng tiến sĩ từ ĐHColombia. Ông bắt đầu giảng dạy tại chuyên môn trong lĩnh vực lập kế hoạch chiến lược, đổi mới doanh nghiệp và quản lý thay đổi công nghệ tại Tuck Business School Dartmouth từ năm 1957 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1993.
3 Gerry Johnson là giáo sư về Quản trị chiến lược tại Đại học Strathclyde Graduate School of Business - Anh. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách và nhiều bài báo được xuất bản trên các tạp chí nghiên cứu quản lý quan trọng. Ông cũng là một diễn giả thường xuyên tại các hội nghị khoa học trên khắp thế giới. Kevan Scholes - chuyên về quản lý chiến lược.
Ông cũng là Giáo sư về Quản trị chiến lược và trước đây là Giám đốc của Sheffield Business School, Anh. Ông có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy về chiến lược và là một nhà tư vấn về quản lý phát triển cho một số cơ quan quốc gia. 6 z - Kế hoạch (Plan): chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán. - Mô thức (Pattern): sự kiên định về hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định.
- Vị thế (Position): phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó. - Quan niệm (Perspective): cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới. - Thủ thuật (Ploy): cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ. (Nguồn: Henry Mintzberg, 1987.
The Strategy Concept 1: Five Ps for Strategy) Không chỉ bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, định nghĩa chiến lược còn khác nhau tùy theo cấp độ. Việc định nghĩa chính xác chiến lược theo cấp độ về bản chất tùy thuộc quan điểm. Tối thiểu có ba mức chiến lược cần được nhận diện: Chiến lược cấp công ty; Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và các chiến lược chức năng. - Chiến lược cấp công ty hướng tới mục đích và phạm vi tổng thể của tổ chức.
- Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên các thị trường cụ thể. - Chiến lược chức năng (hay chiến lược hoạt động) là các chiến lược giúp cho các chiến lược cấp kinh doanh và cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện nguồn lực, các quá trình con người và các kỹ năng cần thiết. Hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa, các công ty đang nhanh chóng đa dạng hóa hoạt động của mình vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Từ đó, chiến lược toàn cầu được coi như là sự lựa chọn đương đầu với các vấn đề kinh doanh có tính quốc tế.
Thực thi chiến lược Tổ chức thực thi chiến lược hay thực thi chiến lược là một giai đoạn có ý nghĩa quan trọng đảm bảo sự thành công của toàn bộ quá trình quản trị chiến lược. Thực tế cho thấy các Tổ chức thường đầu tư quá nhiều thời gian vào lựa chọn và quyết định chiến lược nhưng dường như lại cho rằng chiến lược đó sẽ diễn ra một cách đương nhiên. 7 z Các mục tiêu chiến lược không bao giờ tự đạt được mà muốn biến chúng thành hiện thực đòi hỏi trước hết phải phân tích cặn kẽ, hình thành các chính sách, phân bổ nguồn lực bởi mọi kế hoạch ngắn hạn hơn một cách hợp lý và tổ chức thực hiện chúng. Chừng nào việc triển khai thực hiện chưa được tiến hành một cách khoa học và có hiệu quả thì các chiến lược vẫn chỉ dừng lại trên giấy tờ.
Trong giai đoạn thực hiện, các kế hoạch định hướng sẽ được chuyển hoá thành hành động cụ thể. Có thể khẳng định tổ chức thực thi chiến lược là một giai đoạn có vị trí rất quan trọng dể biến chiến lược thành hiện thực. Xây dựng chiến lược đúng đắn, phù hợp với môi trường kinh doanh là hết sức quan trọng, nhưng triển khai thực thi chiến lược cũng là nhân tố quan trọng bảo đảm cho chiến lược thành công. Về mặt bản chất, thực thi chiến lược là quá trình chuyển các ý tưởng chiến lược đã được hoạch định thành các hành động cụ thể của tổ chức, hay nói cách khác là chuyển từ "lập kế hoạch các hành động" sang "hành động theo kế hoạch" ( Kaplan, R.
Tổ chức thực thi chiến lược không dừng lại ở các ý tưởng mà phải biến các ý tưởng chiến lược thành các chính sách, kế hoạch cụ thể, phù hợp thực tiễn và biến chúng thành hiện thực. Tổ chức thực thi chiến lược là khó và phức tạp hơn so với hoạch định chiến lược vì nó bao gồm nhiều công việc từ hình thành các chính sách hợp lý, xây dựng các kế hoạch ngắn hạn hơn… Tổ chức thực thi chiến lược đòi hỏi sự nỗ lực, phối hợp đồng bộ của mọi bộ phận, cá nhân trong suốt quá trình thực thi chiến lược. Mục đích ưu tiên của quá trình này là đưa các mục tiêu, các quyết định chiến lược đã chọn lựa vào thực hiện thắng lợi trong thời kì chiến lược. Trong thực tế, quá trình tổ chức thực thi chiến lược có thể chia làm các giai đoạn: 1.
Chuẩn bị triển khai chiến lược Mục đích của bước này là nhằm đảm bảo chắc chắn rằng những người chịu trách nhiệm đối với công tác thực thi phải nắm bắt chính xác nội dung chiến lược, lý do tại 8 z sao lại theo đuổi và mục tiêu tương ứng là gì? Việc xem xét lại như là một bước đánh giá cuối cùng về những mục tiêu và chiến lược đề ra. Thông qua đó xây dựng hình thức cơ cấu để triển khai chiến lược: xây dựng các cơ cấu tổ chức, các kế hoạch tác nghiệp và cơ cấu tài chính. Muốn thực hiện tốt chiến lược, tổ chức phải xác định một cơ cấu tổ chức phù hợp, phải chỉ rõ ai là người chịu trách nhiệm tổ chức thực thi chiến lược, bộ phận nào chịu trách nhiệm thực thi chiến lược, tổ chức đào tạo hoặc tái đào tạo nếu cần. Có rất nhiều mô hình cơ cấu mà nhà quản lý có thể lựa chọn cho phù hợp với thực trạng của tổ chức và với yêu cầu thực thi chiến lược.