Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT CỦA PIAGET VÀO PHÁT TRIỂN TƯ DUY LOGIC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5- 6 TUỔI TRONG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN VỚI TOÁN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về quá trình dạy học nhằm phát triển tư duy logic cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi Ở Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy cho trẻ Mẫu giáo.
Các công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em của Nguyễn Khắc Viện và Nguyễn Thị Nhất (1989) [5]; Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Như Mai, Đinh Thị Kim Thoa [4]… tìm ra đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ em, đưa ra những định hướng chung nhằm phát triển tư duy cho trẻ. Theo Đinh Thị Tứ, ở trẻ 5- 6 tuổi đã xuất hiện một số yếu tố của tư duy logic và đưa ra những định hướng nhằm phát triển dạng tư duy này [2]. Theo Nguyễn Khắc Viện và Nguyễn Thị Nhất khả năng tư duy trừu tượng ở trẻ Mẫu giáo được hình thành tương đối đầy đủ ở mức ban đầu là khi trẻ có khả năng sử dụng thao tác để giải quyết nhiệm vụ tư duy ở các phương diện số, không gian, thời gian, quan hệ nguyên nhân- kết quả [5]. Theo Ellen Booth Church, trẻ 5-6 tuổi đang ở ranh giới của những kinh nghiệm cụ thể và kinh nghiệm trừu tượng [72].
Lazarus đã khẳng định trong giai đoạn này trẻ có thể lập luận và đưa ra chuỗi suy nghĩ hợp lý [42]. Cordes, đã chứng minh rằng trẻ 5- 6 tuổi có thể thành công trong giải quyết những nội dung toán học đòi hỏi khả năng lập luận theo tỉ lệ [34]. Qua công trình thực nghiệm, Irina Pogozhina (2014) đã chứng minh trẻ mầm non có khả năng hiểu được nguyên tắc bảo toàn khi tham gia vào các nhiệm vụ đòi hỏi sự vận dụng thao tác phân loại và xếp dãy thứ tự [60]. Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy, trẻ 5-6 tuổi đã có khả năng giải quyết các vấn đề đòi hỏi khả năng lập luận và sử dụng các biểu tượng trừu tượng thay Luan van 12 cho các biểu tượng trực quan, cụ thể.
Những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về biện pháp phát triển tư duy logic trong hoạt động làm quen với toán cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi. Vận dụng lý thuyết của Piaget, T. Constance Kami và Joseph L.(2003) đưa ra các biện pháp phát triển khả năng tư duy logic toán cho trẻ: giáo viên hướng dẫn gián tiếp, khuyến khích trẻ suy nghĩ trong các hoạt động hàng ngày. Giáo viên đặt các câu hỏi mở để trẻ suy nghĩ, khuyến khích trẻ thảo luận nhóm để rút ra kết luận.
Thay vì làm bài tập, trẻ nên học tập gián tiếp qua việc tham gia vào các trò chơi toán học [37]. Furth và Harry Wachs (1975) đã thiết kế và hướng dẫn thực hiện một số dạng trò chơi như: phân loại; xếp thứ tự, xếp loạt; phân loại chéo… nhằm phát triển tư duy logic cho trẻ [26]. Bobby Ojose (2008) đã mô tả các giai đoạn phát triển nhận thức với sự nhấn mạnh về tầm quan trọng của chúng để phát triển toán học, cung cấp các gợi ý cho kế hoạch giảng dạy toán học. Bài viết đưa ra cách hướng dẫn cho trẻ làm quen với toán.
Khi trẻ đang tham gia vào một vấn đề, giáo viên nên gợi chuyện từ trẻ. Dựa vào câu trả lời, cũng như hành động của trẻ trên các học liệu, giáo viên có thể suy ra các cơ chế tư duy của trẻ. Giáo viên nên sử dụng câu hỏi một cách hiệu quả về việc mô tả các đối tượng. Ví dụ, khi học sinh tìm hiểu các hình dạng hình học, giáo viên có thể yêu cầu học sinh tạo nhóm các hình dạng có đặc điểm tương tự.
Những câu hỏi có thể là: "Làm thế nào mà con quyết định nơi mà mỗi hình thuộc về? Có cách nào khác để đưa những vật này vào nhóm nữa không?" [52]. Cho trẻ tham gia vào các cuộc thảo luận, tương tác có thể tạo ra sự khám phá bằng nhiều cách khác nhau để có thể tạo các nhóm đồ vật, từ đó giúp trẻ tư duy về số lượng. Nhóm tác giả Kato, T. thiết kế trò chơi “Lining Up the 5s”- một dạng trò chơi với thẻ nhằm phát triển tư duy logic toán học [39].
Micklo (1995) đã nghiên cứu và thiết kế một số hoạt động nhằm phát triển khả năng phân loại và tư duy logic cho trẻ. Bằng cách tổ chức cho trẻ khám phá, Luan van 13 miêu tả thuộc tính của các đồ vật và tìm điểm giống và khác giữa chúng… Tìm và đặt vật vào đúng khu vực được tạo bởi 2 vòng tròn sao cho hợp lí. Các trò chơi đòi hỏi trẻ quan sát, hiểu các khái niệm, lập luận để giải quyết vấn đề [46]. David Moshman (2004), nghiên cứu khả năng lập luận hợp lí của trẻ từ 5-10 tuổi cho thấy, trẻ 5 tuổi có khả năng đưa ra các lập luận hợp lí trước khi hiểu được thế nào là một lập luận hợp lý.
Sự phản hồi, hợp tác và tương tác với bạn cùng lứa trong hoạt động nhóm sẽ tăng cường khả năng này ở trẻ [48]. Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Egle Säre, Piret Luik và Tiia Tulviste (2016) về cải thiện kỹ năng lập luận cho trẻ Mầm non cho thấy trẻ 5- 6 tuổi có khả năng lập luận bằng lời nói. Khả năng lập luận bằng lời bao gồm: sự so sánh, phân tích, sự biện hộ, sử dụng từ “bởi vì”, có sự kết nối với nguyên nhân của vấn đề khi được yêu cầu hãy đưa ra lí do cho ý kiến, kết luận của trẻ. Thảo luận nhóm là phương pháp phát triển những kỹ năng này [62].
Leslie Smith (2000) nghiên cứu về khả năng lập luận quy nạp trong toán học khẳng định: Lập luận quy nạp trong hoạt động LQVT bằng phương pháp hình thức (formal method) nằm trong tầm tay của trẻ từ 5– 7 tuổi. Để phát triển khả năng này, giáo viên cần tổ chức hoạt động đòi hỏi trẻ nắm được cách làm và giải thích được nguyên nhân của vấn đề. Đồng thời, bằng cách cho trẻ thực hiện lặp đi lặp lại có hệ thống những phép cộng ở cả hành động với vật thật lẫn thao tác với con số sẽ phát triển khả năng lập luận quy nạp với những con số trừu tượng [63]. Trong “Toán học và lập luận loại suy ở trẻ em” của Lyn D.
Những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra biện pháp phát triển tư duy logic trong hoạt động làm quen với toán cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi. Tuy nhiên, việc kế thừa và vận dụng vào một số trường mầm non tại Việt Nam đòi hỏi có thêm những nghiên cứu đầy đủ và cụ thể hơn. Lý thuyết của Piaget. Khái niệm công cụ của đề tài 1.
Có nhiều quan niệm khác nhau về tư duy logic được nêu ra cho đến thời điểm này. Có thể đề cập đến một vài khái niệm sau về tư duy logic: Theo S. Yaman: “Tư duy logic là một kỹ năng được xác định trong thời kỳ của quá trình trừu tượng trong các giai đoạn phát triển nhận thức của Piaget. Với kỹ năng tư duy logic, người học giải quyết vấn đề bằng cách thực hiện các hành động tâm lý hoặc đạt tới những nguyên tắc, quy tắc bằng cách thực hiện sự trừu tượng và khái quát” [67].
Theo Strydom, tư duy logic là suy nghĩ về mặt nguyên nhân và hậu quả, là suy nghĩ tuần tự [53]. Theo Karl Albrecht: “Tư duy logic là quá trình trong đó một người sử dụng lập luận một cách liên tục để đi đến kết luận. Giải quyết các vấn đề hoặc tình huống liên quan đến tư duy logic yêu cầu có các cấu trúc tâm lý, mối liên hệ giữa các sự việc và các chuỗi lập luận có ý nghĩa” [71]. Chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Karl Albrecht làm thuật ngữ nghiên cứu trong đề tài này.
Biểu tượng/biểu tượng hóa- khái niệm. thì biểu tượng là hình ảnh trong tâm trí được tạo nên ngay khi các sơ cấu bắt đầu vận hành tự phát và tự kết hợp. Bằng chính điều ấy, những sơ cấu này đem đến một ý nghĩa cho những dấu vết mà tri giác để lại và ngay lúc đó nâng những dấu vết này lên thành các biểu tượng trong mối tương quan với chúng. Hình ảnh được tạo nên như vậy trở thành cái biểu đạt, mà cái được biểu đạt của nó chính là các sơ cấu cảm giác vận động [11].
Biểu tượng hàm chứa một sự biểu trưng một đối tượng vắng mặt, bởi vì nó là sự so sánh giữa một yếu tố đã biết với một yếu tố tưởng tượng, một biểu trưng hư cấu, bởi sự so sánh này chủ yếu là một sự đồng hóa làm biến dạng [12]. “Biểu tượng được hiểu là mô hình tâm lý chi phối hành vi của cá nhân hoặc của nhóm xã hội”.Piaget, biểu tượng là khả năng biểu đạt của trẻ. Trong biểu Luan van 15 tượng có cái được biểu đạt và cái biểu đạt. Cái được biểu đạt là những hình ảnh tri giác, cái biểu đạt là ngôn ngữ, hình ảnh tinh thần hay cử chỉ tượng trưng.Piaget thuật ngữ biểu tượng bao gồm cả các tượng trưng và kí hiệu, chức năng biểu đạt là điểm chung giữa chúng [59].
Theo nghĩa rộng: biểu tượng là một quá trình qua đó các cá thể hiểu biết về thế giới, được hình thành trong cấu trúc của tâm lý. Theo nghĩa hẹp: biểu tượng là cái gợi lên một yếu tố (1 hình ảnh, 1 khái niệm…) được lưu giữ lâu dài trong trí nhớ được chủ thể gợi lên và sử dụng trong hoàn cảnh cần thiết. Biểu tượng hóa Thành tựu nổi bật trong giai đoạn tiền thao tác là sự hình thành và phát triển chức năng kí hiệu. Nó được hình thành từ sự bắt chước, trò chơi tượng trưng, các bản vẽ, các hình ảnh tinh thần (những hình ảnh bên trong não), những trí nhớ hình ảnh hay ngôn ngữ.
Nhờ chức năng kí hiệu đã gợi ra cho trẻ em các biểu tượng về sự vật khi chúng không còn xuất hiện trực tiếp. Ngược lại, nhờ có biểu tượng, tạo ra cho tư duy một trường rộng lớn hơn nhiều so với trường cảm giác – vận động [6]. Biểu tượng hóa là quá trình qua đó các cá thể hiểu biết về thế giới, hình thành hình ảnh, khái niệm trong cấu trúc của tâm lý. Chúng ta cũng cần tìm hiểu “khái niệm” là gì.
Khái niệm Theo Ülgen (2004), khái niệm là tên của các phạm trù được sử dụng để phân loại những đồ vật tương tự, con người, sự kiện và những quá trình [69]. Phạm trù là một nhóm, tập hợp các đối tượng có chung đặc điểm [61].