Luận Văn Thạc Sĩ: Ứng Dụng VHF Offset Trong Liên Lạc Hàng Không Dân Dụng Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU UET nghiên cứu ứng dụng VHF offset trong liên lạc hàng không dân dụng tại Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp.

Trường đại học

Trường Đại Học Công Nghệ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2009

76
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM – HIỆN TRẠNG VÀ KHÓ KHĂN

1.1. Hoạt động của Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam (VATM) – hiện chuyển tên là Tổng công ty bảo đảm hoạt động bay Việt Nam (VANSCORP)

1.2. Phân tích đánh giá hiện trạng của hệ thống VHF tại FIR Hà Nội

2. CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU VỀ CÁC GIẢI PHÁP KỸ THUẬT (TRONG QUẢN LÝ BAY)

Tóm tắt

I. Tổng quan về Ứng Dụng Kỹ Thuật VHF Offset Trong Liên Lạc Hàng Không

Kỹ thuật VHF Offset đã trở thành một phần quan trọng trong hệ thống liên lạc hàng không dân dụng tại Việt Nam. Với sự phát triển nhanh chóng của ngành hàng không, việc áp dụng công nghệ mới là cần thiết để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quản lý bay. Kỹ thuật này cho phép truyền thông giữa kiểm soát viên không lưu và phi công một cách hiệu quả hơn, đồng thời giảm thiểu nhiễu sóng và tăng cường khả năng phủ sóng.

1.1. Khái niệm về Kỹ Thuật VHF và VHF Offset

Kỹ thuật VHF (Very High Frequency) là một phần của dải tần số vô tuyến, chủ yếu được sử dụng cho liên lạc hàng không. VHF Offset là một phương pháp cải tiến cho phép sử dụng cùng một tần số trên nhiều trạm mà không gây ra nhiễu sóng, từ đó nâng cao hiệu quả liên lạc.

1.2. Lịch sử Phát Triển Kỹ Thuật VHF Trong Hàng Không

Kỹ thuật VHF đã được áp dụng từ những năm 1940 và đã trải qua nhiều cải tiến. Sự phát triển của công nghệ đã dẫn đến việc áp dụng VHF Offset, giúp tối ưu hóa việc sử dụng tần số và nâng cao chất lượng liên lạc trong ngành hàng không.

II. Thách Thức Trong Liên Lạc Hàng Không Dân Dụng Việt Nam

Ngành hàng không dân dụng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ liên lạc. Sự gia tăng lưu lượng bay, cùng với yêu cầu về an toàn và hiệu quả, đã đặt ra áp lực lớn lên hệ thống hiện tại. Việc thiếu hụt tần số và nhiễu sóng là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Vấn Đề Nhiễu Sóng Trong Hệ Thống VHF

Nhiễu sóng là một trong những vấn đề lớn nhất trong hệ thống liên lạc VHF hiện tại. Việc sử dụng tần số đồng thời trên nhiều trạm có thể dẫn đến tình trạng nhiễu, ảnh hưởng đến chất lượng liên lạc giữa kiểm soát viên không lưu và phi công.

2.2. Thiếu Hụt Tần Số Liên Lạc

Với sự gia tăng nhanh chóng của số lượng chuyến bay, nhu cầu về tần số liên lạc cũng tăng lên. Hệ thống hiện tại không thể đáp ứng đủ nhu cầu này, dẫn đến việc cần phải nâng cấp và cải tiến hệ thống liên lạc.

III. Phương Pháp Ứng Dụng Kỹ Thuật VHF Offset

Để giải quyết các thách thức trong liên lạc hàng không, việc áp dụng kỹ thuật VHF Offset là một giải pháp khả thi. Kỹ thuật này cho phép sử dụng cùng một tần số trên nhiều trạm mà không gây ra nhiễu sóng, từ đó nâng cao hiệu quả liên lạc và giảm thiểu chi phí đầu tư.

3.1. Cách Thức Hoạt Động Của VHF Offset

VHF Offset hoạt động bằng cách làm trễ tín hiệu, cho phép nhiều trạm sử dụng cùng một tần số mà không gây ra nhiễu. Điều này giúp tăng cường khả năng phủ sóng và cải thiện chất lượng liên lạc.

3.2. Lợi Ích Của Việc Áp Dụng VHF Offset

Việc áp dụng VHF Offset mang lại nhiều lợi ích, bao gồm giảm chi phí đầu tư cho thiết bị mới, cải thiện khả năng phủ sóng và nâng cao hiệu quả trong việc điều hành bay.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Kỹ Thuật VHF Offset Tại Việt Nam

Kỹ thuật VHF Offset đã được áp dụng thành công tại nhiều trạm liên lạc hàng không tại Việt Nam. Việc triển khai kỹ thuật này không chỉ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ mà còn nâng cao an toàn trong quản lý bay.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về VHF Offset

Nghiên cứu cho thấy việc áp dụng VHF Offset đã giúp giảm thiểu nhiễu sóng và cải thiện khả năng liên lạc giữa các trạm. Điều này đã góp phần nâng cao hiệu quả trong việc điều hành bay.

4.2. Các Trạm Liên Lạc Đã Áp Dụng VHF Offset

Nhiều trạm liên lạc tại Việt Nam đã áp dụng kỹ thuật VHF Offset, bao gồm các trạm tại Nội Bài, Vinh và Sơn Trà. Việc này đã giúp cải thiện đáng kể khả năng phủ sóng và chất lượng dịch vụ.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Kỹ Thuật VHF Offset Trong Hàng Không

Kỹ thuật VHF Offset hứa hẹn sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ liên lạc hàng không tại Việt Nam. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ, việc cải tiến và áp dụng các giải pháp mới sẽ giúp ngành hàng không Việt Nam phát triển bền vững.

5.1. Triển Vọng Phát Triển Kỹ Thuật VHF

Triển vọng phát triển kỹ thuật VHF trong hàng không là rất lớn. Việc áp dụng các công nghệ mới sẽ giúp nâng cao hiệu quả và an toàn trong quản lý bay.

5.2. Định Hướng Nâng Cấp Hệ Thống Liên Lạc

Định hướng nâng cấp hệ thống liên lạc hàng không sẽ tập trung vào việc cải tiến công nghệ và áp dụng các giải pháp mới như VHF Offset để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của ngành hàng không.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu uet ứng dụng vhf offset trong liên lạc hàng không dân dụng việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu này, tôi xin được gửi lời trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Viết Kính, tập thể các giảng viên Khoa Sau đại học, trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội, đội ngũ cán bộ kỹ thuật Công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc cùng các đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn này. Xin chân thành cảm ơn! LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 CHƢƠNG 1: QUẢN LÝ BAY VIỆT NAM – HIỆN TRẠNG VÀ KHÓ KHĂN 1. Hoạt động của Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam (VATM) – hiện chuyển tên là Tổng công ty bảo đảm hoạt động bay Việt Nam (VANSCORP): Trung tâm quản lý bay dân dụng Việt Nam là công ty nhà nước có nhiệm vụ cung ứng bảo đảm hoạt động bay nhằm bảo đảm hoạt động bay an toàn, điều hoà, liên tục và hiệu quả. Chức năng và nhiệm vụ chính của VATM là: Cung cấp các dịch vụ không lưu bao gồm:  Dịch vụ điều hành không lưu cho tại sân (TWR), vùng tiếp cận (APP) và đường dài (ACC).

 Công tác thông báo bay (FIS) và các dịch vụ cảnh báo (ALRS).  Quản lý vùng trời, không phận quốc gia:  Quản lý các phương tiện cơ sở hạ tầng cho không vận.  Thiết lập các đường bay và phối hợp trong việc sử dụng vùng trời. Ngoài ra còn có các dịch vụ khác như dịch vụ khí tượng, tìm kiếm cứu nguy, huấn luyện, đào tạo,.

Cùng với yêu cầu phát triển của ngành hàng không quốc tế, tổ chức hàng không dân dụng quốc tế ICAO đã có những giám sát, khuyến nghị hướng dẫn các quốc gia trong các hệ thống tổ chức quản lý không lưu. Theo ICAO yêu cầu, để cung cấp các dịch vụ tốt nhất theo yêu cầu của các khách hàng thì một hệ thống quản lý bay cần phải cung cấp tất cả các dịch vụ cơ bản là:  Quản lý không lưu – ATN: Quản lý chung các dịch vụ cung cấp, phối kết hợp đồng bộ các dịch vụ để đạt được kết quả tốt nhất.  Dịch vụ không lưu – ATS: Điều hành bay trực tiếp các tàu bay trong vùng thông báo bay.  Dịch vụ thông tin liên lạc – CS: Hay còn gọi là các dịch vụ thông tin cố định hàng không, bao gồm: thông tin thoại, số liệu giữa các đơn vị kiểm soát không lưu nội địa, quốc tế với nhau và với tàu bay.

Mạng bao gồm các hệ thống thông tin trực thoại, hệ thống chuyển tiếp điện văn tự động sử dụng các đường truyền dẫn viễn thông quy mô lớn.  Dịch vụ giám sát – SS: giám sát tất cả các hoạt động bay trong vùng thông báo bay, sử dụng các Radar tại các trạm thu thập xử lý, lưu trữ và phân phát các dữ liệu bay về trung tâm phục vụ cho việc điều hành bay.  Dịch vụ dẫn đường – NS: Sử dụng các phương tiện dẫn đường như đèn hiệu, NDB, VOR/DME hoặc vệ tinh để dẫn đường cho các tàu bay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16  Dịch vụ khí tượng hàng không – MS: Giám sát các hiện tượng thời tiết trong vùng thông báo bay, xử lý các số liệu thời tiết và cấp phát cho tất cả các đơn vị liên quan.

 Dịch vụ cảnh báo, tìm kiếm và cứu nạn – SAR: tổ chức tốt các mạng lưới tìm kiếm, cứu nguy trên quy mô quốc gia, quốc tế, sẵn sàng ứng phó với các tình huống lâm nạn của tàu bay. Ngoài ra việc huấn luyện, đào tạo chuyên môn cũng có vai trò to lớn trong việc duy trì và phát triển hệ thống, đây cũng là một loại dịch vụ không thể thiếu được trong việc quản lý nguồn nhân lực cho ngành quản lý bay. Hiện trạng của các hệ thống hiện tại: Không phận Việt Nam được chia thành 2 vùng thông báo bay (FIR) là FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh. Việc điều hành hoạt động bay trong FIR Hà Nội do Trung tâm quản lý bay miền Bắc – nay là Công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc, đảm trách.

Hình 1 – 1: FIR Hà Nội và FIR Hồ Chí Minh FIR Hà Nội bao gồm 16 đường bay, trong đó có 5 đường bay quốc tế (A202, A206, B465, R474, R471) và 11 đường bay nội địa (W1, W2, W3, W4, W5, W6, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 W10, W14, W20, W21, W22) với 2 sân bay quốc tế (Nội Bài, Cát Bi) và 4 sân bay quốc nội (Điện Biên, Nà Sản (đang tạm ngừng để nâng cấp), Vinh, Đồng Hới). Nó được chia thành 2 phân khu, phân khu Bắc và phân khu Nam có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ không lưu cho các tàu bay đến/đi và quá cảnh qua FIR Hà Nội. Hình 1 – 2: Các trạm VHF và tầm phủ sóng tương ứng trên lãnh thổ Việt Nam. Hệ thống thông tin trực thoại hàng không sử dụng các tuyến truyền dẫn VSAT, Viba và cáp quang cung cấp các dịch vụ trực thoại đường dây nóng giữa các Trung tâm chỉ huy bay.

Việc liên lạc không – địa sử dụng các hệ thống điều khiển xa VHF với cơ chế điều biên AM 25kHz công suất phát lớn đến 250W tạo nên mạng lưới các trạm VHF bao phủ toàn bộ FIR và hệ thống thu phát HF đơn biên. Cụ thể như sau: - Hệ thống thiết bị VHF Nội Bài (VHF EXICOM 50W) được đặt tại ACC Hà Nội và lắp đặt và đưa vào sử dụng từ năm 1993, trang bị cho cả hai phân khu điều hành bay của FIR Hà Nội (phân khu Bắc và phân khu Nam). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 - Trạm VHF Tam Đảo (VHF EXICOM 50W) được sử dụng để phủ sóng cho phân khu Bắc và một phần phân khu Nam. - Trạm VHF Vinh (VHF EXICOM 50W) được triển khai, lắp đặt và đưa vào sử dụng từ năm 1997 với mục đích đáp ứng việc phủ sóng cho phân khu Nam.

- Trạm VHF Sơn Trà được thiết lập với mục đích ban đầu để phục vụ công tác điều hành bay cho phân khu I ACC Hồ Chí Minh. Đến năm 2000 triển khai thêm hệ thống VHF để bổ trợ cho các trạm VHF Vinh và VHF Nội Bài. - Hệ thống thiết bị VHF Vinh, Điện Biên, Cát Bi đều dùng thiết bị thu phát công suất 7W. Hệ thống chuyển tiếp điện văn tự động AMSC được đặt tại các trung tâm HAN, DNA, HCM và Trung tâm điều hành chỉ huy bay kết nối sử dụng các phương tiện truyền dẫn nêu trên.

Hệ thống giám sát được cơ cấu bởi các trạm Radar sơ cấp PSR tầm phủ 80 dặm và các trạm Radar thứ cấp SSR tầm phủ 250 dặm có nhiệm vụ thu thập các thông tin tàu bay cung cấp cho các trung tâm xử lý số liệu Radar tại hai FIR. Sơ đồ trạm và tầm phủ được mô tả như hình 1 – 3 dưới đây. Hình 1 – 3: Tầm phủ Radar trên lãnh thổ Việt Nam Dich vụ dẫn đƣờng được cung cấp bởi các đài NDB và VOR/DME trải dài trên các tuyến bay nội địa và quốc tế. Tại các sân bay với yêu cầu cao về lưu lượng có sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 phối hợp giữa các đài NDB, hệ thống đèn tín hiệu và các phương tiện hạ cánh ILS lắp đặt tại đường băng.

Dịch vụ cảnh báo, tìm kiếm và cứu nạn SAR được tổ chức thành ba trung tâm chịu sự quản lý trực tiếp bởi VATM, bao gồm: - 2 trung tâm tìm kiếm và cứu nạn tại HAN và HCM. - 1 trung tâm con tại DNA. Các trung tâm trên hoạt động có sự phối hợp cùng các nhà chức trách, các cụm cảng hàng không và trung tâm tìm kiếm cứu nạn quốc gia đảm bảo dịch vụ nhanh nhất trong mọi trường hợp khẩn cấp. Hình 1 – 4: Hệ thống các phương tiện dẫn đường kết hợp 1.

Phân tích đánh giá hiện trạng của hệ thống VHF tại FIR Hà Nội:[1] Do đặc điểm địa hình phần phân khu Bắc rộng có dãy núi Hoàng Liên Sơn chia cắt làm 2 phần, phần phía Tây hẹp nhưng núi non hiểm trở, có nhiều núi cao, phần phía Đông rộng gồm núi cao, đồng bằng, biển. Phân khu Nam hẹp nhưng lại dài. Do LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 đặc thù của địa hình nêu trên, nên mặc dù hiện nay, trong FIR Hà Nôị đã lắp đặt 4 trạm VHF (Nội Bài, Tam Đảo, Vinh, Sơn Trà) phục vụ công tác điều hành bay nhưng thực tế cho thấy vùng phủ sóng VHF của các trạm này còn có nhiều hạn chế: - Phân khu Bắc với 2 trạm thu/phát sóng VHF đặt tại Nội Bài và Tam Đảo (Kiểm soát viên không lưu chỉ chọn được một trong hai trạm) cũng đã phủ sóng phần lớn vùng trách nhiệm, tuy nhiên vẫn còn những vùng chưa được phủ sóng như phần phía Tây Bắc nơi có 2 sân bay Nà Sản và Điện Biên trên đường W4, các vùng biển khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh, trên đường bay W10 ở các mực bay thấp. - Phân khu Nam với 3 trạm thu/phát sóng VHF đặt tại Nội Bài, Vinh, Sơn Trà trên thực tế tại một thời điểm chỉ phát được trên một trạm VHF.

Hiện nay phân khu Nam được điều hành chính bằng trạm VHF Vinh. Trạm VHF Sơn Trà chỉ để dự phòng trong trường hợp trạm Vinh có sự cố kỹ thuật. Với cách tổ chức hiện nay, tầm phủ sóng VHF của trạm VHF Vinh chưa đảm bảo phủ sóng toàn bộ phân khu Nam. Cụ thể một số đường bay như W20, một phần của đường bay W1, W2, W10.

Vấn đề nhiễu sóng VHF có và không có khả năng khắc phục cũng là điểm cần chú ý. Do việc quản lý về tần số đồng thời phương thức điều chế AM hiện đang dùng là phương thức phổ thông và không có mã hoá chống nhiễu nên còn bị nhiễu tần số tại các vùng cục bộ. Ta chỉ có thể khắc phục tạm thời là sử dụng các tần số dự phòng khác đã đăng ký. Như vậy, hiện trạng của hệ thống trên không thể đảm bảo cho nhu cầu lưu lượng bay hiện nay.

Theo số liệu thống kê thì đối với FIR Hà Nội tính từ năm thành lập 1993 đến năm 2003, tổng số chuyến bay được điều hành đã đạt trên 230000 chuyến (dựa trên báo cáo hàng năm của VATM). Tính từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 30 tháng 9 năm 2009, FIR Hà Nội đã điều hành bay được khoảng 49000 chuyến bao gồm cả quốc tế và quốc nội (được lấy từ số liệu bay của công ty bảo đảm hoạt động bay miền Bắc). Do lưu lượng bay tăng lên, nhu cầu về cung cấp dịch vụ không lưu trên một vùng trời cũng tăng lên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ