Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Uông Bí giữ vị thế là cực tăng trưởng kinh tế quan trọng phía Tây tỉnh Quảng Ninh với tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2020 đạt 12,8%, tổng diện tích tự nhiên đạt 256,30 km2 cùng quy mô dân số ghi nhận 127.120 người, mật độ cư trú trung bình 492,1 người/km2. Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng, đặc biệt là hoạt động khai khoáng với sản lượng khai thác than đạt 8,38 triệu tấn vào năm 2021 kết hợp các cụm nhiệt điện và vật liệu xây dựng, đang tạo sức ép rất lớn lên môi trường sinh thái. Nguồn tài nguyên nước mặt trên các lưu vực sông chính như sông Đá Bạc, sông Uông, sông Sinh và hệ thống hồ chứa nội vùng đang đối mặt với nguy cơ suy thoái cục bộ nghiêm trọng.

Vấn đề cốt lõi trong công tác quản lý tài nguyên nước tại địa phương nằm ở việc các đánh giá môi trường trước đây chỉ dừng lại ở phân tích các thông số vật lý, hóa học đơn lẻ tại từng điểm quan trắc rời rạc theo các quy chuẩn kỹ thuật. Cách tiếp cận truyền thống này chưa phản ánh được bức tranh chất lượng nước mang tính tổng thể, đồng thời bỏ sót tính liên tục và quy luật phân bố ô nhiễm theo không gian của toàn bộ mạng lưới thủy vực.

Trước yêu cầu cấp thiết đó, nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) kết hợp chỉ số chất lượng nước (VN_WQI) nhằm đánh giá định lượng và mô hình hóa trực quan diễn biến chất lượng nước mặt trên địa bàn thành phố Uông Bí trong năm 2022. Đề tài xác lập cơ sở dữ liệu số hóa tin cậy, xác định chính xác các điểm nóng suy thoái môi trường và lượng hóa không gian ảnh hưởng. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp các nhà quản lý địa phương xây dựng kịch bản kiểm soát nguồn thải, hướng tới mục tiêu 100% nguồn nước mặt cấp cho sinh hoạt và sản xuất được giám sát tự động, bảo vệ an ninh nguồn nước bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM) kết hợp lý thuyết phân tích không gian trong Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS). Về mô hình cấu trúc dữ liệu không gian, đề tài vận dụng nguyên lý biểu diễn đối tượng địa lý qua hai mô hình cơ bản là Raster và Vector được chuẩn hóa bởi S. Aronoff (1989), cho phép lưu trữ và chồng xếp đồng thời các lớp thông tin địa hình, mạng lưới sông ngòi và các thuộc tính ô nhiễm hóa lý.

Bên cạnh đó, mô hình đánh giá chất lượng nước tổng hợp được kế thừa từ các phương pháp tiên tiến trên thế giới như chỉ số WQI của bang Oregon (Hoa Kỳ) và cơ quan bảo vệ môi trường Canada (Quebec WQI), đồng thời chuẩn hóa theo hướng dẫn tính toán chỉ số VN_WQI do Tổng cục Môi trường Việt Nam ban hành tại Quyết định số 1460/QĐ-TCMT ngày 12/11/2019. Thang phân loại VN_WQI quy chuẩn chất lượng nước thành 6 mức cụ thể, tương ứng với dải giá trị từ dưới 10 điểm (ô nhiễm rất nặng, mã màu nâu) đến 91-100 điểm (chất lượng rất tốt, mã màu xanh biển). Nghiên cứu tích hợp 4 khái niệm nền tảng bao gồm: dữ liệu thuộc tính phi không gian, phép nội suy bề mặt không gian, chỉ số phụ của thông số quan trắc và hành lang bảo vệ nguồn nước mặt ven đô thị.

Phương pháp nghiên cứu

Mạng lưới lấy mẫu được thiết lập với cỡ mẫu 19 vị trí quan trắc nước mặt đại diện (ký hiệu từ NM01 đến NM19) phân bố trên các lưu vực trọng yếu gồm sông Vàng Danh, suối Khe Cái, sông Uông, sông Sinh, hồ Yên Trung và hồ Tân Lập. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo địa hình thủy vực và vị trí các nguồn tiếp nhận nước thải chính như khu vực mỏ than Hồ Thiên - Khe Chuối, trạm xử lý bãi chôn lấp rác Khe Giang và các điểm giao cắt hạ lưu đô thị. Dữ liệu thực nghiệm được thu thập định kỳ theo 2 đợt đặc trưng đại diện cho mùa khô và mùa mưa trong năm 2022.

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng kết quả quan trắc từ Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh - đơn vị đạt chứng nhận năng lực VIMCERTS 023 theo Quyết định 2718/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường và đạt chuẩn ISO/IEC 17025:2017 (số hiệu VILAS 396). Các nhóm thông số phân tích bao gồm: nhóm I (pH), nhóm III (kim loại nặng gồm As, Fe, Cu, Pb, Hg), nhóm IV (chất hữu cơ và dinh dưỡng gồm DO, BOD5, COD, N-NH4+) và nhóm V (vi sinh Coliform), kết hợp chỉ tiêu chất rắn lơ lửng (TSS) đối chiếu theo quy chuẩn địa phương QCĐP 1:2020/QN.

Về phương pháp phân tích, nghiên cứu ứng dụng thuật toán nội suy nghịch đảo khoảng cách có trọng số (IDW) tích hợp trong phần mềm ArcGIS 10.x với số mũ lũy thừa chuẩn p = 2. Lý do lựa chọn thuật toán IDW là nhờ tốc độ tính toán nhanh, bảo toàn giá trị đo thực tế tại các trạm quan trắc, không tạo ra các giá trị ngoại lai và đặc biệt phù hợp với hình học mạng lưới sông ngòi tuyến tính trong điều kiện mật độ trạm đo quan trắc tại cấp cơ sở còn hạn chế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả tính toán chỉ số VN_WQI và mô hình hóa không gian bằng ArcGIS đã làm nổi bật 4 phát hiện quan trọng về hiện trạng nguồn nước mặt Uông Bí năm 2022:

Thứ nhất, có sự phân hóa sâu sắc về chất lượng nước theo mùa. Vào mùa mưa, chỉ số WQI tổng hợp toàn mạng lưới tăng trung bình từ 15% đến 25% so với mùa khô. Hiện tượng này xuất phát từ lưu lượng nước mặt dồi dào trong các tháng cao điểm mưa lũ (lượng mưa tháng 7 đạt 346,3 mm trong khi tháng 11 chỉ đạt 29,2 mm), giúp pha loãng nồng độ các chất hòa tan. Ngược lại, vào mùa khô, chỉ số WQI tại nhiều phân lưu giảm mạnh xuống mức 26-50 điểm, tương đương chất lượng nước xấu.

Thứ hai, ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng tập trung cao tại các chi lưu chịu ảnh hưởng của công nghiệp khai khoáng. Điển hình tại điểm NM16 trên sông Vàng Tân (chi lưu thượng nguồn sông Trung Lương gần cụm mỏ than Hồ Thiên - Khe Chuối), hàm lượng TSS trong mùa khô vượt quy chuẩn QCĐP 1:2020/QN Cột A2 khoảng 2,2 lần; nồng độ BOD5 và COD lần lượt dao động ở mức 15-28 mg/l và 32-55 mg/l, khiến giá trị WQI thành phần hữu cơ giảm xuống mức rất kém.

Thứ ba, nồng độ vi sinh và dinh dưỡng amoni tăng đột biến tại các đoạn sông chảy qua khu dân cư tập trung. Tại hạ lưu sông Sinh (đoạn qua phường Quang Trung và Thanh Sơn), mật độ Coliform quan trắc được vượt ngưỡng cho phép trên 3.200 MPN/100ml; nồng độ N-NH4+ vượt giới hạn quy chuẩn từ 1,3 đến 2,1 lần do nước thải sinh hoạt đô thị chưa qua xử lý được xả trực tiếp vào dòng chảy.

Thứ tư, nguồn nước tại các hồ chứa lớn duy trì sự ổn định ở mức an toàn sinh thái cao. Hồ Yên Trung với dung tích cấp nước lớn và diện tích mặt nước 50 ha cùng hồ Tân Lập (16 ha) ghi nhận chỉ số WQI dao động liên tục từ 82 đến 94 điểm trong cả hai mùa, bảo đảm tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt và dịch vụ du lịch sinh thái.

Thảo luận kết quả

Diễn biến phân bố không gian của chất lượng nước mặt thành phố Uông Bí chịu tác động cộng hưởng mạnh mẽ giữa điều kiện tự nhiên và các hoạt động kinh tế nhân sinh. Đặc điểm địa hình miền núi dốc chiếm 63,04% diện tích tự nhiên ở phía Bắc khiến quá trình xói mòn bề mặt diễn ra nhanh chóng mỗi khi có mưa lớn, cuốn trôi lượng lớn bùn đá và cặn than từ các bãi thải mỏ xuống thung lũng suối Khe Cái và sông Vàng Danh. Ở khu vực hạ lưu phía Nam, sông Đá Bạc dài 12 km và rộng trung bình 400 m chịu tác động của chế độ nhật triều với biên độ dao động 0,6 m; hiện tượng triều dâng làm chậm quá trình tiêu thoát nước thải đô thị, dẫn đến hiện tượng tích tụ chất ô nhiễm hữu cơ trong mùa khô.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương đồng tại Việt Nam như đề tài của Bùi Nguyễn Linh (2009) tại Bà Rịa - Vũng Tàu hay công trình của tác giả Hao Wu (2016) trên lưu vực sông Hán (Trung Quốc), xu hướng suy giảm WQI theo mùa tại Uông Bí có tính tương thích cao. Sự tương đồng này khẳng định vai trò quyết định của cơ cấu nguồn thải công nghiệp khai khoáng và mật độ đô thị đối với sự suy giảm oxy hòa tan (DO) cũng như sự gia tăng tải lượng nitơ, photpho.

Trong báo cáo kỹ thuật, dữ liệu được trực quan hóa rất sinh động thông qua biểu đồ cột đôi biểu diễn biến thiên nồng độ từng thông số hóa lý (BOD5, COD, Amoni, Fe, As) giữa mùa mưa và mùa khô. Đồng thời, bảng ma trận tính toán chỉ số phụ WQISI được liên kết với bản đồ chuyên đề ArcGIS thông qua thang màu tiêu chuẩn 6 cấp. Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách nhận diện trực quan tức thì phạm vi các dải nước ô nhiễm mà không cần xử lý các bảng số liệu phân tích phức tạp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát ô nhiễm và nâng cao chất lượng nguồn nước mặt thành phố Uông Bí trong giai đoạn 2024-2030, bốn giải pháp trọng tâm được đề xuất triển khai cụ thể:

Đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng thu gom và trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung: Ủy ban nhân dân thành phố Uông Bí phối hợp Sở Xây dựng triển khai dự án trạm xử lý nước thải sinh hoạt công suất thiết kế 15.000 m3/ngày đêm tại khu vực nội thị; mục tiêu nâng tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý đạt chuẩn từ dưới 25% hiện nay lên mức tối thiểu 75% trước năm 2026.

Kiểm soát chặt chẽ và tuần hoàn nước thải mỏ than: Yêu cầu các đơn vị trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) và các doanh nghiệp khai thác vật liệu xây dựng trên địa bàn nâng cấp hệ thống hồ lắng, công nghệ keo tụ và lọc áp lực tại 5 cơ sở mỏ; đảm bảo 100% nước thải mỏ được xử lý đạt chuẩn QCĐP 1:2020/QN Cột A2 và tái sử dụng ít nhất 60% cho tưới ẩm dập bụi mỏ than trước quý IV năm 2025.

Thiết lập hệ thống quan trắc tự động liên tục tích hợp dữ liệu WebGIS: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Uông Bí chủ trì lắp đặt bổ sung 8 trạm quan trắc nước mặt tự động tại các vị trí xung yếu trên sông Sinh, sông Uông và sông Đá Bạc; truyền dữ liệu liên tục 15 phút một lần về trung tâm điều hành thành phố thông minh để tự động cập nhật bản đồ cảnh báo ô nhiễm thời gian thực trước năm 2025.

Khoanh định hành lang bảo vệ nguồn nước và phục hồi rừng đầu nguồn: Ban Quản lý Di tích và Rừng quốc gia Yên Tử phối hợp Ủy ban nhân dân các xã Thượng Yên Công và phường Vàng Danh tiến hành cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ tại 6 lưu vực sông hồ chính; triển khai trồng mới 220 ha rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn thành phố từ 49,5% lên mức 52,0% vào năm 2027, hạn chế tối đa nguy cơ rửa trôi bùn đất đá mỏ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

Cán bộ quản lý tại các cơ quan chuyên trách môi trường: Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Uông Bí có thể sử dụng kết quả nghiên cứu và tập bản đồ phân vùng WQI làm cơ sở dữ liệu nền phục vụ việc thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), xây dựng Kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt theo Điều 9 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Nhóm nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Bản đồ và Hệ thống Thông tin Địa lý có thể tham khảo quy trình tích hợp thuật toán nội suy IDW với công thức tính VN_WQI chuẩn của Tổng cục Môi trường như một tài liệu tham khảo mẫu mực để mở rộng áp dụng cho các lưu vực sông khác trên toàn quốc.

Lãnh đạo các doanh nghiệp khai khoáng và công nghiệp địa phương: Ban giám đốc và bộ phận an toàn môi trường tại các công ty khai thác than, nhà máy xi măng, nhiệt điện tại Uông Bí có thể tra cứu diễn biến tải lượng ô nhiễm để đánh giá phạm vi ảnh hưởng của nước thải công nghiệp đơn vị mình; từ đó chủ động cải tiến quy trình công nghệ xử lý tuần hoàn dòng thải đạt tiêu chuẩn xả thải cho phép.

Các tổ chức tư vấn quy hoạch đô thị và quản lý lưu vực: Các kỹ sư quy hoạch có thể khai thác tài liệu về chế độ thủy văn, hiện trạng chất lượng nước của 10 đơn vị hành chính phường, xã tại Uông Bí để thiết kế hợp lý các công trình thoát nước mưa, vị trí cửa xả và định hướng không gian phát triển kinh tế ven sông Đá Bạc tầm nhìn đến năm 2030.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp nội suy IDW có ưu điểm gì vượt trội so với các mô hình toán học thủy lực như MIKE 11 khi đánh giá nước mặt Uông Bí?

Phương pháp IDW tính toán trực tiếp giá trị điểm chưa quan trắc dựa trên khoảng cách nghịch đảo với 19 điểm quan trắc thực tế, giúp tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí. Trong khi đó, các mô hình thủy lực phức tạp đòi hỏi số liệu trắc dọc, trắc ngang lòng dẫn và dữ liệu viễn thám chi tiết - những yếu tố vốn rất khan hiếm tại cấp thành phố trực thuộc tỉnh.

Chỉ số VN_WQI được tính toán theo quy chuẩn nào và phản ánh chất lượng nước ra sao?

Chỉ số VN_WQI được tính toán nghiêm ngặt theo Quyết định số 1460/QĐ-TCMT của Tổng cục Môi trường Việt Nam năm 2019. Thang đo tổng hợp 4 nhóm thông số hóa lý, kim loại và vi sinh về một thang điểm duy nhất từ 0 đến 100, giúp người xem dễ dàng phân biệt được các mức độ an toàn của nguồn nước phục vụ sinh hoạt hay tưới tiêu.

Tại sao chất lượng nước mặt mùa khô tại Uông Bí lại suy giảm rõ rệt hơn so với mùa mưa?

Vào mùa khô, lượng mưa tại Uông Bí giảm sâu chỉ còn 29,2 mm vào tháng 11, làm giảm lưu lượng dòng chảy cơ bản của sông Uông và sông Sinh. Trong khi đó, tải lượng nước thải từ 127.120 cư dân và các hoạt động công nghiệp khai khoáng vẫn xả ra liên tục, khiến nồng độ chất ô nhiễm không được pha loãng và tích tụ cục bộ.

Khai thác than tác động tiêu cực nhất đến những chỉ tiêu nước mặt nào tại địa phương?

Hoạt động khai thác than lộ thiên và hầm lò với sản lượng trên 8,38 triệu tấn mỗi năm tác động tiêu cực nhất đến hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS), nhu cầu oxy hóa học (COD) và kim loại nặng (Fe, As). Dòng chảy mặt từ các bãi thải mỏ đổ về sông Vàng Danh làm nước có độ đục cao và lắng đọng bùn than tại các chi lưu.

Quy trình cập nhật dữ liệu chất lượng nước trên nền tảng bản đồ GIS của đề tài được thực hiện thế nào?

Cơ sở dữ liệu được tổ chức dưới dạng cấu trúc địa lý chuẩn hóa trong phần mềm ArcGIS. Định kỳ khi có số liệu quan trắc mới từ 19 trạm đo, người quản lý chỉ cần nhập các giá trị nồng độ vào bảng thuộc tính và chạy công cụ IDW tự động, bản đồ phân vùng ô nhiễm mới sẽ được kết xuất trong vòng 10 phút.

Kết luận

Nghiên cứu ứng dụng GIS đánh giá chất lượng môi trường nước mặt tại các sông trên địa bàn thành phố Uông Bí năm 2022 đã đạt được những kết quả nổi bật:

  • Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu không gian tích hợp 19 trạm quan trắc định kỳ trên 6 hệ thống sông hồ trọng yếu của thành phố Uông Bí.
  • Xác định rõ nét sự biến động chất lượng nước theo mùa với chỉ số VN_WQI mùa khô suy giảm từ 15% đến 25% so với mùa mưa trên các trục sông chính.
  • Khoanh vùng chính xác hai điểm nóng ô nhiễm hữu cơ và chất rắn lơ lửng tại khu vực mỏ than sông Vàng Danh và đoạn hạ lưu sông Sinh qua khu dân cư tập trung.
  • Khẳng định tính ưu việt của phương pháp nội suy IDW trong việc mô hình hóa không gian chất lượng nước, giúp trực quan hóa phân vùng môi trường nhanh chóng và chính xác.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và thể chế quản lý, tạo tiền đề để địa phương kiểm soát 100% nguồn thải công nghiệp và nâng cao tỷ lệ xử lý nước thải đô thị lên 75%.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã chuẩn hóa thành công quy trình ứng dụng công nghệ GIS trong phân tích chất lượng môi trường nước cấp thành phố, mở ra hướng tiếp cận hiện đại thay thế cho các phương pháp báo cáo quan trắc truyền thống. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2024 đến năm 2025, địa phương cần ưu tiên triển khai số hóa hệ thống giám sát tự động và tích hợp mô hình lên nền tảng WebGIS để phục vụ quản trị thông minh. Các cơ quan chức năng, khối doanh nghiệp sản xuất và cộng đồng cần chủ động khai thác triệt để các phát hiện khoa học từ nghiên cứu này nhằm bảo vệ toàn diện nguồn tài nguyên nước mặt, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của thành phố Uông Bí.