Chương 1 SỬ DỤNG DI SẢN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lí luận của việc sử dụng di sản trong dạy học lịch sử 1. Quan niệm về di sản và sử dụng di sản trong dạy học Đã có nhiều công trình, nhiều tác giả nghiên cứu về di sản và vấn đề bảo tồn di sản, do đó có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này. Trong lời mở đầu Luật di sản văn hóa, Nhà nước ta đã khẳng định: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận di sản văn hóa của nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta” [22; tr.
Có coi đó là sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta trong nhìn nhận, đánh giá vai trò của văn hóa. Nhất là trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế. Trong nghị quyết Trung ương V khóa VIII đã khẳng định: “Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển kinh tế xã hội”. Từ đó thấy được vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong giáo dục.
Di sản còn được hiểu theo nhiều khía cạnh khác nhau, hiểu theo nghĩa đen là tài sản của người đã khuất để lại hoặc là giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia một dân tộc vẫn còn được lưu giữ. Theo Từ điển Thuật ngữ Lịch sử phổ thông, di sản là: “của cải vật chất hay tinh thần của người chết hay của thế hệ trước để lại: di sản văn hóa cổ đại” [19, tr. Theo đó, trong phạm vi rộng một quốc gia dân tộc đều có những di sản nhất định, theo nghĩa hẹp hơn mỗi địa phương, mỗi dân tộc trong từng quốc gia cũng có những di sản nhất định. Đó là những giá trị vật chất và tinh thần có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ.
Hiểu một cách cụ thể di sản là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia… Di sản cũng là sản phẩm tinh thần gắn với cộng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. Mặt khác đó còn là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Di sản là tài sản tinh thần hoặc tài sản vật chất do lịch sử để lại hoặc do thiên nhiên tạo ra. Về cách phân loại di sản, theo tổ chức UNESCO, di sản bao gồm di sản thiên nhiên và di sản văn hóa.
Di sản thiên nhiên là di chỉ hay di tích của một quốc gia, như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố. Di sản cũng có nghĩa là tài sản để lại, vật của quá khứ do các nước có tham gia công ước Di sản thế giới đề cử cho Chương trình quốc tế Di sản thế giới, được ghi danh và quản lý bởi UNESCO theo Công ước Di sản thế giới. Theo đó, mọi di sản văn hoá đều có tiềm năng và điều kiện để sử dụng trong dạy học, giáo dục ở trường phổ thông. Từ di sản thế giới, di sản quốc gia đến di sản của địa phương, của cộng đồng; từ di sản văn hoá đến di sản thiên nhiên; từ di sản vật thể đến di sản phi vật thể, di sản thông tin tư liệu…mọi di sản đều có khả năng sử dụng để dạy học, giáo dục trong trường phổ thông với cách khai thác phù hợp và nỗ lực của các GV.
Di sản văn hóa là những giá trị kết tinh từ sự sáng tạo của cộng đồng dân tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sáng tạo từ nhiều thế hệ cho tới ngày nay. Di sản văn hóa là bức tranh đa dạng muôn màu, muôn vẻ, là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại. Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sáng tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa từ các nền văn hóa và văn minh của nhân loại. Những giá trị đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn hóa và văn minh của nhân loại với nền văn hóa bản địa lâu đời của các dân tộc Việt Nam.
Do đó di sản văn hóa Việt Nam tồn tại dưới hai dạng: di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia” [8, tr. Di sản văn hóa vật thể bao gồm: Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật. “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [8, tr.
Di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; Ngữ văn dân gian, bao gồm: Sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết; Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm: Âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác; Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác. Ngoài ra còn có các lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống và tri thức dân gian.Ngoài ra, còn có quan niệm cho rằng ngoài di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn tồn tại loại di sản hỗn hợp bao gồm di sản thiên nhiên và di sản văn hóa. Theo các cách định nghĩa và phân loại nêu trên, tác giả quan niệm di sản dưới góc độ dạy học như sau: Di sản là một thực thể vật chất có mối liên kết hoàn toàn tự nhiên với thiên nhiên, văn hóa và tinh thần của cộng đồng xã hội trong mối liên hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là những giá trị được tạo ra một cách khách quan và có giá trị đối với cuộc sống của con người.
Trong những năm gần đây vấn đề đổi mới phương pháp dạy học gắn liền với việc thiết kế lại nội dung và hình thức tổ chức dạy học đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết đối với những người làm công tác giáo dục nói Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chung, trong đó có đội ngũ những người làm công tác dạy học bộ môn Lịch sử nói riêng. Đổi mới giáo dục đó là một cuộc “cách mạng toàn diện”, tuy nhiên để đổi mới đem lại hiệu quả và thực sự thiết thực đối với sự nghiệp giáo dục hiện nay thì cần có một lộ trình cụ thể, rõ ràng và phù hợp. Lộ trình đó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những kinh nghiệm giáo dục của đất nước, có sự tham khảo, học tập những mô hình giáo dục tiên tiến trên thế giới. Trong bối cảnh tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 nền giáo dục của mỗi quốc gia càng gánh trên mình những trách nhiệm nặng nề, đó là giáo dục, đào tạo ra những con người vừa có tri thức, có năng lực và đặc biệt là khả năng thích ứng trước những thay đổi của thực tế cuộc sống.
Đáp ứng những yêu cầu cấp bách đó, bộ môn lịch sử cùng với những môn học khác có một vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục, góp phần tạo ra nguồn nhân lực trong tương lai đáp ứng được những yêu cầu của xã hội. Muốn làm tốt nhiệm vụ giáo dục đó, trước hết bộ môn lịch sử cần được đặt đúng vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục, người học thật sự yêu thích, say mê môn học và người dạy có những phương pháp và cách thức tổ chức dạy học phù hợp để bộ môn này phát huy tối đa ưu thế giáo dục và giáo dưỡng của nó. Thực tế cho thấy hiện nay các mô hình giáo dục tiên tiến trên thế giới đều hướng vào các mô hình dạy học tiếp cận và phát triển năng lực cho người học. Theo đó người học cần được tham gia vào tất cả các khâu các bước của quá trình học tập; tăng cường học lý thuyết gắn với thực hành; gắn liền học tập với thực tế - trải nghiệm.
Cách học như vậy không chỉ giúp HS chủ động chiếm lĩnh tri thức mà còn rèn luyện được các kĩ năng học tập, kỹ năng sống. đây là xu hướng phù hợp với định hướng đổi mới nội dung và phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay. Thực tế đã chỉ ra việc sử dụng di sản trong dạy học hiện nay chính là một mô hình học tập gắn liền với thực tế đang phát huy hiệu quả và đặc biệt làm thay đổi hoàn toàn không khí học tập, tạo cơ hội cho học sinh có cơ hội được trải nghiệm và chiếm lĩnh tri thức một cách chủ động. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.