ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài sản vô cùng quý giá không thể sinh ra mà con người thì dân số ngày càng đông khiến cho quỹ đất ngày càng hạn hệp, trong cuộc sống, đất đai đóng vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu được bàng các tư liệu sản khác. Trong cuộc sống hàng ngày với các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và cả sinh hoạt của mình, con người đã tác động trực tiếp vào đất đai, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên và đôi khi làm giảm dần tính bền vững của đất đai. Để quản lý đất đai một cách chặt chẽ theo một hệ thống, những bộ luật đã được ban hành và có hiệu lực, cần thiết phải có bộ bản đồ địa chính chính quy, bộ hồ sơ địa chính hoàn chỉnh theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Trong công tác thành lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một trong những trách nhiệm và nhiệm vụ quan trọng để thực hiện đảm bảo trong công tác việc quản lý Nhà nước về đất đai… Với tính cấp thiết của việc phải xây dựng hệ thống bản đồ địa chính trong khu vực xã Cao Tân - huyện Pác Nặm - tỉnh Bắc Kạn, được sự phân công, giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên, Các chú và các anh trong đội đo đạc thuộc Công ty cổ phần Khảo sát thiết kế & Đo đạc bản đồ Việt Nam, với sự hướng dẫn của cô TS. Nông Thị Thu Huyền đã giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu hoàng thành đề tài: Ứng dụng công nghệ tin học và phương pháp GNSS thực hiện công tác đo vẽ, chỉnh lý bản đồ địa chính tờ số 92 tỷ lệ 1:1000, xã Cao Tân - Huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn. Mục tiêu của đề tài 2 1. Mục tiêu tổng quát Ứng dụng công nghệ tin học và phương pháp GNSS thực hiện công tác đo vẽ, chỉnh lý bản đồ địa chính tờ số 92 tỷ lệ 1:1000, xã Cao Tân - Huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn.
Mục tiêu cụ thể - Thiết kế phương án Xây dựng và thành lập lưới khống chế đo vẽ phục vụ cho việc đo vẽ chỉnh lý bản đồ của xã Cao Tân và tờ bản đồ địa chính số 92 xã Cao Tân, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn. - Đo chỉnh lý tờ bản đồ số 92 xã Cao Tân, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.Ý nghĩa của đề tài - Thành lập bản đồ địa chính theo công nghệ số giúp cho dễ dàng quản lý, hiện đại hóa để quản lý hệ thống hồ sơ địa chính theo đúng chuẩn quy định của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường. - Để có thể quản lý sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và bền vững. Có kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất phù hợp thì đòi hỏi công tác về lĩnh vực đo đạc bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính, kê khai, đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở các cấp phải được quan tâm đầu tư về cả nguồn nhân lực và cả thiết bị đây là những công việc tất yếu nằm trong công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực đất đai được trình bày tại quy định trong Luật Đất đai năm 2013.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát chung về bản đồ địa chính 2. Khái niệm Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất, các yếu tố địa lý và tài liệu quan trọng trong hồ sơ địa chính, tài liệu cơ bản để thống kê đất đai, quy hoạch cung cấp các thông tin về đất đai và mang tính pháp lý cao phục vụ trong việc quản lý đất đai, dành riêng cho từng cá nhân sử dụng đất gắn liền với từng thửa đất. Bản đồ địa chính thường xuyên được cập nhật những thông tin thay đổi liên quan đến hồ sơ địa chính đất đai theo thời gian, thời kỳ sao cho có hợp pháp phù hợp theo quy định của luật đất đai.
Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới điều hướng tới việc lập quy hoạch - kế hoạch xây dựng bản đồ địa chính để đảm bảo trong việc sử dụng đất một cách hợp lý nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, người ta hướng tới việc xây dựng bản đồ địa chính đa chức năng. + Bản đồ địa chính được dùng làm cơ sở pháp lý để thực hiện các nhiệm vụ quản lý đất đai trong công tác quản lý nhà nước về đất đai hiện nay như sau: - Thống kê đất đai. - Giao đất sản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp cho người có nhu cầu sử dụng đất khi giao đất phải cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tránh tranh chấp đất đai không cần thiết giữa những người sử dụng đất. - Khuyến khích người dân đi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và sở hữu nhà và các tài sản gắn liền với đất cho người dân vì có nhiều người dân chưa đủ hiểu biết về tầm quan trọng của giấy chứng nhận sử dụng đất.
4 - Khảo sát xác nhận hiện trạng và theo dõi biến động về quyền sử dụng đất cũng như hiện trạng sử dụng đất bởi nhiều khu vực hiện nay do tác động của con người cũng như từ tự nhiên đã làm thay đổi hiện trạng. - Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, cải tạo đất, thiết kế xây dựng các điểm dân cư, qui hoạch giao thông, thủy lợi cho phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hộ của khu vực đăng thực tập. - Giải quyết và phương án tranh chấp đất đai chính là đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tránh việc tranh chấp. Với những điều kiện khoa học cùng công nghệ như hiện nay cũng như bản đồ địa chính được thành lập ở 2 dạng bản đồ cơ bản đó chính là bản đồ giấy địa chính cùng với bản đồ số địa chính.
Bản đồ địa chính giấy là loại bản đồ sử dụng lâu đời được gọi là truyền thống, các thông tin được thể hiện toàn bộ trên bề mặt giấy nhờ các hệ thống ký hiệu và ghi chú bằng các hình học, biểu tượng, chữ, được vẽ bằng các loại bút, màu chuyên dùng cho vẽ bản đồ và mực chuyên dụng hoặc là in ra. Bản đồ giấy cho ta thông tin rõ ràng, rễ hiểu, trực quan, sử dụng thuận lợi, nhanh chóng. Bản đồ số địa chính tương tự như bản đồ giấy và tương đồng về thông tin, những thông tin này được lưu dưới dạng số trong máy tính, sử dụng một hệ thống ký hiệu đã số hóa và bản đồ này rất dễ dàng quản lý. Khi thành lập bản đồ địa chính cần phải làm đủ đến các yêu cầu cơ bản sau: - Chọn tỷ lệ bản đồ địa chính phải phù hợp với vùng đất và loại đất mà ta đăng đo đạc chỉnh lý.
Ngoài ra, bản đồ địa chính cần thể hiện đầy đủ và chính xác các thông tin mà hiện trạng sử dụng đất.Ở những vùng có độ chênh cao cần thể hiện cả về mặt địa hình dưới dạng đường cong để dễ phân biệt. - Các yếu tố pháp lý được cán bộ địa chính xác nhận, được thể hiện chính xác và chặt chẽ. Bản đồ địa chính phải có hệ thống tọa độ thống nhất và đồng bộ, có phép chiếu phù hợp để các yếu tố trên bản đồ thay đổi tới mức nhỏ nhất. Các yếu tố cơ bản và Nội dung của bản đồ địa chính 2.
Các yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính Bản đồ địa chính là bản đồ được sử dụng trong quản lý đất đai thể hiện một cách rõ rành, từ các danh thử, các loại hình sử dụng đất lên bản đồ. Bộ bản đồ được biên tập riêng cho từng đơn vị hành chính cơ sở xã, phường. Mỗi bộ bản đồ là sự kết hợp của một hoặc nhiều tờ bản đồ ghép lại thì mới tạo thành một bộ hồ sơ hoàn chỉnh. Để đảm bảo tính thống nhất cũng như tránh sai sót, dễ dàng sử dụng, vận dụng trong quá trình thành lập cũng như trong quá trình sử dụng bản đồ vào quản lý đất đai ta cần phải phân biệt và hiểu rõ bản chất các tính chất, yếu tố của bản đồ địa chính và một số yếu tố phụ khác có liên quan và liên kết với bản đồ hiện hành.
Yếu tố điểm: Điểm là một vị trí cố định được đánh dấu, xác định ngoài thực địa bằng mốc đặc biệt. các điểm đặc trưng trên đường biên của các thửa đất. Trong bản đồ địa chính các dấu mốc còn thể hiện điểm ở ngoài thực địa và tọa độ của chúng. Yếu tố đường: Đấy là những đoạn thẳng, đường thẳng, đường cong được nối lại với nhau thông qua các điểm trắc địa ngoài thực địa.
Với những đoạn thẳng cần được xác định, nắm bắt quản lý các tọa độ hai điểm đầu và cuối chúng, dựa vào tọa độ của hai điểm trắc địa ở ngoài thực địa có thể tính ra được chiều dài cũng như là phương vị của từng đoạn thẳng. Những đường gấp khúc có nhiều điểm tọa độ cần phải quản lý tọa độ các điểm đặc trưng của những đường gấp khúc đó. Thửa đất: Là yếu tố đơn vị cơ bản nhất, dễ nhận thấy của bản đồ đất đai. Thửa đất nó là một miếng đất hay ô đất đang tồn tại ở thực tế có diện tích nhất định và cụ thể, được giới hạn bởi một đường chạy xung quanh khép kín, các bờ hoặc ta lui, các cọc dấu, thuộc một chủ sở hữu hay một chủ sử dụng nhất định.
Ở trong từng thửa đất có thể có một hay một vài loại đất khác nhau. Các đường ranh giới của những thửa đất có thể là đường thẳng, cong, gấp khúc. Thửa đất 6 phụ: Ở trong mỗi thửa đất thì thông thường sẽ tồn tại những thửa có diện tích cực kỳ nhỏ, nhưng lại có ranh giới được phân chia ổn định, được khai thác và tận dụng vào những mục đích sử dụng khác nhau, trồng những loại cây trồng khác nhau, với các mức tính tiền thuế khác nhau, thậm chí là còn thường xuyên thay đổi các chủ sử dụng đất. Loại thửa đất nhỏ này thường được gọi là những thửa đất phụ, đơn vị phụ tính thuế.
Lô đất: Đó là vùng đất có thể được gồm từ một hay nhiều loại đất khác nhau thành một vùng thống nhất. Bình thường thì lô đất sẽ được giới hạn bằng những con đường kênh mương, sông ngòi, bờ, kè đá, tường. thông thường các lô đất có cùng nhóm đất có tính chất giống nhau cũng như cùng mục đích sử dụng.