CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu trên thế giới Từ cuối thập niên 80 của thế kỉ XX, nhiều nhà giáo dục Mỹ như Steven Cohen, Irwin Unger Timothy J.
Newby, Sandholtz, Judith H. đã đề cập đến việc sử dụng CNTT trong dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của người học trong đó có một số vấn đề mà các tác giả trên đã đề cập như vai trò của CNTT, CNTT được coi như là một công cụ hỗ trợ các hoạt động dạy học, nhất là yếu tố đa phương tiện (Multimedia) có tác động tích cực đến các giác quan của HS; đề xuất các ý tưởng sư phạm trong quá trình dạy học có sự hỗ trợ của phương tiện kĩ thuật theo hướng phát huy vai trò chủ động, tích cực của người học; xác định các yêu cầu, thuận lợi và khó khăn khi sử dụng CNTT trong dạy học. Các tài liệu về ứng dụng CNTT trong dạy học hóa học ở trường phổ thông xuất hiện còn ít hơn so với các môn khoa học tự nhiên khác. Các tác giả Davis Gardner (1998), Deidre McCann (2001).
đã đề cập một số yêu cầu, ý tưởng trong việc khai thác thông tin Multilmedia từ các CD-Rom, Internet. nhằm giúp HS có cơ hội tiếp cận, trao đổi thông tin một cách đa dạng, tích cực giữa GV với HS, giữa HS với HS. Bên cạnh đó còn có những tài liệu về việc ứng dụng CNTT vào dạy học, trước hết phải kể đến bộ giáo trình “Teach to the Future” (Dạy học cho tương lai) của Intel và bộ giáo trình “Partner in Learning” của Microsoft. Đã có nhiều chương trình, dự án, đề tài ở nhiều cấp độ khác nhau đánh giá về việc ứng dụng CNTT và truyền thông, vào trong hoạt động dạy và học.
Trên một số trang web của nước ngoài đã có một số khảo sát dưới dạng bảng hỏi nhằm mục đích đo lường NL ứng dụng CNTT. Chẳng hạn, trang web [28][29] đã khảo sát những chỉ số sau: - Về kiến thức và kỹ năng CNTT, đo theo năm mức các nội dung: Sử dụng phần mềm soạn thảo văn bản; phần mềm bảng tính; sử dụng e-mail; công cụ trình diễn (chẳng hạn PowerPoint); công cụ thống kê; trình duyệt internet; phần mềm đồ 5 họa; thiết kế trang web; lập trình; quản lý cơ sở dữ liệu; quản lý dự án. - Về mục đích sử dụng, có các nội dung sau: Trong dạy học; dạy kỹ năng máy tính; tìm kiếm/truy cập thông tin và tư liệu giáo dục; soạn bài/trình diễn; chuẩn bị bài giảng; giao tiếp với người học; giao tiếp với phụ huynh; giao tiếp với đồng nghiệp; quan sát và đánh giá tiến trình học tập hoặc theo dõi NL của người học; chuẩn bị báo cáo; hoạt động cá nhân. - Ngoài ra, bảng hỏi còn dành hẳn một mục về việc sử dụng internet trong dạy học, với các nội dung: Dạy học một bài cụ thể với các nội dung khác nhau; tạo trình diễn/báo cáo; chuẩn bị bài giảng; giao tiếp với người học, với đồng nghiệp; truy cập và sử dụng các công cụ đánh giá trực tuyến; chuẩn bị tư liệu dạy học; xây dựng tài liệu tham khảo.
Các chỉ số trên đã bao quát hầu hết các nội dung từ tổng quát đến cụ thể về NL ứng dụng CNTT của giáo viên (GV). Một số nội dung chưa phù hợp với số đông GV của Việt Nam, chẳng hạn chỉ số “giao tiếp với phụ huynh”, “thiết kế trang web”, “lập trình”, “quản lý cơ sở dữ liệu”, “quản lý dự án”… Tác giả Eddie Naylor [30] với bộ phiếu khảo sát kỹ năng CNTT đã chia thành 2 thang đo: Thang 1 (kiến thức, kỹ năng CNTT cơ bản) và thang 2 (lập kế hoạch giảng dạy và thuyết trình). - Về kiến thức, kỹ năng CNTT cơ bản, có các chỉ số chung (với nhiều câu hỏi cho mỗi chỉ số) như sau: Quản lý máy tính; môi trường và phần cứng máy tính; xử lý văn bản; bảng tính điện tử; cơ sở dữ liệu; phần mềm trình diễn; sử dụng internet; dùng mạng nội bộ; e-mail. - Về lập kế hoạch giảng dạy và thuyết trình, có các chỉ số: Soạn bài; dạy học và thuyết trình; đo lường và đánh giá; dùng CNTT cho bản thân hoạt động nghề nghiệp.
Nhìn chung bộ phiếu này và bộ phiếu đã nêu trên có nhiều điểm tương đồng, nhưng cách tiếp cận và phân chia thang đo khác nhau. Mỗi bộ phiếu có ưu thế riêng, ở bộ phiếu đầu, vấn đề khai thác, sử dụng internet được quan tâm hơn; trong khi đó ở bộ phiếu sau, quan tâm nhiều đến lập kế hoạch và thuyết trình. Tác giả đã khai thác một số nội dung ở các bảng hỏi này dùng cho việc xây dựng bảng hỏi của luận văn. Tuy nhiên, các tài liệu này chủ yếu nêu ra các ứng dụng CNTT vào dạy học các môn học nói chung mà chưa chú trọng và đề cập đến việc phát triển NL cho HS 6 thông qua dạy học hóa học đặc biệt là NL tin học.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu trong nước Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong giai đoạn hiện nay đang đặt ra không ít thách thức, nhưng bên cạnh đó cũng tạo ra cơ hội phát triển rất lớn cho mỗi quốc gia. Để phát triển toàn diện cả về kinh tế, văn hóa và xã hội đòi hỏi mỗi quốc gia phải có chiến lược, chính sách áp dụng nhanh chóng, có hiệu quả những thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp 4. Ở nước ta, GD & ĐT được Đảng và Nhà nước xác định là quốc sách hàng đầu, là lĩnh vực mũi nhọn nhằm tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước, hoàn thành mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì lẽ đó, việc sử dụng CNTT trong dạy học đang là một yêu cầu vô cùng cấp thiết và quan trọng trong giai đoạn hiện nay.
Chỉ thị số 29/2001/CT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD & ĐT [2] cũng đã chỉ ra rằng: “Đối với GD & ĐT, CNTT có tác động mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp, phương thức dạy và học. CNTT là phương tiện để tiến tới một xã hội học tập”. Một số bài viết đề cập một số biện pháp ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông đáp ứng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 trong giai đoạn hiện nay: Tác giả Vũ Thanh Dung [11] trong bài viết đăng trên tạp chí giáo dục số đặc biệt tháng 8/2018 đã nêu vai trò của CNTT trong dạy học, và đưa ra một số biện pháp thực hiện ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường phổ thông. Tác giả Nguyễn Văn Hòa [17] trong đề tài luận văn của mình đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến NL ứng dụng CNTT của GV và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao khả năng ứng dụng CNTT của GV trường đại học Sư phạm Huế Tác giả Nguyễn Thị Yến [10] đã đề cập tới một số biện pháp nhằm phát triển NL sử dụng CNTT cho HS khi học lịch sử 10 như: Sử dụng công cụ trình chiếu Pzeri, xây dựng phim tư liệu bằng sử dụng phần mềm Proshow Produce, thể hiện ý tưởng sáng tạo bằng IMindMap.
Tác giả Thái Hoài Minh [23] với bài viết đăng trên tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh đã giới thiệu một số khung NL ứng dụng CNTT trong dạy học trên thế giới và ở Việt Nam. Tác giả Phạm Văn Bản - Nguyễn Phương Thảo trường Đại học An Giang [1] 7 giới thiệu khung NL tin học, một số nội dung và phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao NL sử dụng CNTT và truyền thông cho sinh viên Sư phạm Toán tại Trường Đại học An Giang. Tác giả Phạm Thị Hương Giang [13] đã trình bày vấn đề làm thế nào để phát triển NL nhận thức và tư duy của HS trường THPT chuyên với sự trợ giúp của CNTT. Tác giả Nguyễn Chu Hoàng Minh [21] viết về dạy học phần Hiđrocacbon không no, Hóa học 11 nâng cao bằng phương pháp ghép tranh với sự hỗ trợ của CNTT”.
Các tác giả Lê Công Triêm, Nguyễn Đức Vũ [25] đã đề cập tới vai trò quan trọng của máy tính đối với quá trình dạy học, đặc biệt đi sâu vào việc thiết kế bài giảng điện tử trên phần mềm Microsoft PowerPoint. Tiến sĩ Lê Thị Ngọc Anh [15], đã nêu vai trò của CNTT với việc phát triển NL người học, trong bài viết của mình tác giả cũng đề cao vai trò của CNTT trong việc hỗ trợ HS tự học và phát huy vai trò chủ thể của người học. Ứng dụng CNTT hỗ trợ dạy học bằng phương pháp Seminar. - Thạc sĩ Phan Thị Thanh Lê [19, tr 22-24], nghiên cứu cơ sở lý luận về ứng dụng CNTT và quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường tiểu học, đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, và đề xuất một số biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường tiểu học quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Bài viết của tác giả Phạm Thị Lệ Hằng [14, tr 223-225] đăng trên tạp chí giáo dục tháng 7/2017 đã trình bày những vấn đề cơ bản về ứng dụng của CNTT trong dạy học ở các trường trung học cơ sở nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Luận án của tác giả Phạm Thị Lệ Hằng [15], Học viện chính trị, Bộ Quốc phòng đã đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường trung học cơ sở thành phố Hà Nội đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong tình hình hiện nay. Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Kim Loan [20] nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng phát triển NL CNTT trong dạy học cho sinh viên Sư phạm, luận án đề 8 xuất các biện pháp phát triển NL CNTT trong dạy học cho sinh viên Sư phạm ở trường đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở Việt Nam. Tác giả Giang Thành Trung [24] viết về vai trò của CNTT và truyền thông trong dạy học hóa học.
Tác giả Nguyễn Thị Ánh Đăng [12] nghiên cứu và đề xuất các biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức môn hóa học cho HS với sự hỗ trợ của CNTT trong dạy học phần phi kim - Hóa học 10. Như vậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học và vấn đề phát triển NL sử dụng CNTT (hay NL tin học) cho HS đã có một số đề tài, bài báo quan tâm, nghiên cứu.