đặt vấn đề nghiên cứu thông tin một cách chính thống. Theo cách hiểu kinh điển thì thông tin chính là những cái mới khác với những điều đã biết. Kế thừa tư tưởng trên, các nhà khoa học đã đưa thông tin đi vào ngành khoa học hiện đại, C. Shannon1là người đầu tiên đưa ra lý thuyết thông tin, cơ sở của các nghiên cứu về khoa học thông tin sau này.
Và thông tin đã trở thành đối tượng nghiên cứu chủ yếu, trực tiếp của điều khiển học, của lý thuyết thông tin và tin học. Từ đó tuỳ theo lĩnh vực nghiên cứu có rất nhiều định nghĩa về thông tin.Viner cho rằng “Thông tin là nội dung của thế giới bên ngoài được thể hiện trong sự nhận thức của con người”. Le Moigne (1978):“Thông tin là một đối tượng đã được chỉnh dạng,nó được tạo ra bởi con người đang là đại diện cho một kiểu sự kiện mà người đó có thể nhận thức và xác định được trong thực tế. Còn theo từ điển Việt-Việt, thông tin là “sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó” (tratu.
Nhìn chung, những định nghĩa đó đều cố gắng tiếp cận với bản chất của thông tin nhưng chỉ từ những góc độ, phương diện nhất định nào đó của nó. Tuỳ lĩnh vực của đời sống xã hội mà người ta có thể xem xét thông tin từ góc độ phân biệt các loại thông tin như thông tin kinh tế, thông tin khoa học - kỹ thuật, thông tin văn hoá - xã 1 Claude Elwood Shannon (30/4/1916 – 24/2/2001) là nhà toán học, giáo sư đại học người Mỹ, được biết đến là "cha đẻ của lý thuyết thông tin". 1 hội… Chẳng hạn, "thông tin kinh tế là các tín hiệu mới được thu nhận, được thụ cảm (hiểu) và được đánh giá là có ích cho việc ra quyết định quản lý". Để phát triển trên thị trường các doanh nghiệp phải huy động hiệu quả các nguồn tài nguyên hay nguồn lực của mình.Trước đây người ta vẫn quan niệm nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực,nguồn lực tài chính,nguồn lực thiết bị, nguồn lực công nghệ , … Với sự đa dạng của các hoạt động kinh doanh ngày nay, việc quản lý và điều hành các hoạt động kinh doanh càng trở nên phức tạp hơn, yêu cầu về thời gian, độ chính xác và tính hiệu quả cao hơn.
Đồng thời công việc hàng ngày của các nhà quản trị luôn đòi hỏi phải làm việc với kế toán, tài chính, với vấn đề nhân sự - tiền lương hay việc điều hành sản xuất, marketing.Các nhà quản lý khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình bởi lượng thông tin cần xử lý ngày càng nhiều, yêu cầu về độ chính xác và thời gian xử lý ngày càng cao. Như vậy vấn đề cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho các nhà quản lý là yêu cầu bắt buộc, thông tin đã trở thành một nguồn tài nguyên của doanh nghiệp. Các nguồn lựcnhân lực,nguồn lực tài chính,nguồn lực thiết bị, nguồn lực công nghệ , … tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, nguồn lực thông tin có chức năng nhận biết và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Nguồn lực thông tin trực tiếp hỗ trợ các nhà quản trị ra quyết định quản lý; Nó góp phần xác định, xây dựng chính sách, chiến lược kinh doanh.
Thông tin cần thiết và là cơ sở hoạt động cho bộ phận tiếp theo, trong các tiến trình hoạt động của doanh nghiệp. Đối với bên ngoài thông tin cung cấp cho các hoạt động truyền thông, thông báo về các sản phẩm, dịch vụ của công ty cho khách hàng, đối tác, …. Một vai trò rất quan trọng trong hoạt động là thông tin góp phần giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong DN. Công nghệ thông tin Xã hội loài người phát triển như ngày nay là do con người luôn luôn sáng tạo, áp dụng những thành tựu khoa học vào trong đời sống xã hội.
Để tăng năng suất lao động, con người đã thực hiện nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, từ nửa cuối thế kỷ18 được coi là cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ nhất, nó có bản chất là quá trình cơ khí hoá, nội dung là sử dụng máy móc thay thế lao động chân tay. Kết quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật này là sự ra đời của các nước công nghiệp, cơ cấu kinh tế được chuyển đổi từ thuần tuý nông nghiệp sang công nghiệp với tỷ trọng cao hơn nhiều lần. Từ những năm 50 của thế kỷ 20con người bắt đầu cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai. Cuộc cách mạng trong giai đoạn này chủ yếu về sự phát triển của ngành năng lượng mới, những vật liệu mới cho phép đổi mới và chế tạo những máy móc mới, công nghệ sinh học … cuộc cách mạng đã chuyển loài người sang một nền văn minh mới "văn minh trí tuệ".
Thành tựu của cách mạng khoa học trong giai đoạn này phải kế đến sự đóng góp của các thế hệ máy tính điện tử. Bản chất của các ứng 2 dụng máy tính là quá trình sử dụng máy tính trong xử lý thông tin để thay thế một phần lao động trí óc, để trợ giúp phần điều khiển bằng trí tuệ của con người. Sau khi chiếc máy tính điện tử đầu tiên ra đời năm 1944, giới học giả Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ “computer science” (khoa học về máy tính) để chỉ ngành khoa học dành riêng cho lĩnh vực này. Người Pháp cho rằng máy tính điện tử dùng làm phương tiện xử lý thông tin, làm cho ngành thông tin phát triển mạnh hơn nên họ dùng thuật ngữ “informatique” (nghĩa là khoa học về xử lý thông tin trên máy tính điện tử).
Ở nước ta vào thập niên 1960, phía Bắc tiếp xúc với các hệ thống máy tính của Liên Xô, chúng ta gọi những máy này là “máy tính điện tử”. Khoảng đến thập niên 1970, những nhà khoa học đi tiên phong trong lĩnh vực này mới dịch “informatique” từ tiếng Pháp thành “tin học”, chúng ta hiểu nghĩa là một ngành khoa học nghiên cứu về thông tin. Như vậy chúng ta sử đã sử dụng thuật ngữ“tin học” từ khá lâu và hiện nay vẫn sử dụng thuật ngữ này, còn thuật ngữ “công nghệ thông tin” được sử dụng từ khi nào?. Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu vào năm 1958 trong bài viết xuất bản tại tạp chí Harvard Business Review.
Hai tác giả của bài viết, Leavitt và Whisler đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng. Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT). Tuy nhiên thời kỳ này thuật ngữ IT ít được sử dụng.Nhưng con người không chỉ sử dụng máy tính để xử lý thông tin tại chỗ, người ta còn sử dụng máy tính cho những công việc khác nhau như truyền thông tin. Năm 1969 tại Cơ quan nghiên cứu của Quân đội Hoa Kỳ đã sử dụng đường điện thoại để kết nối 2 máy tính, một đặt tại Los Angeles và một ở trường Đại học Stanford, gần San Francisco.Thí nghiệm này đã đặt nền tảng cho mạng ARPANET và sau đó là mạng toàn cầu Internet mà chúng ta đang sử dụng.
Tháng 12 năm 1971, email (thư điện tử) đầu tiên được gửi đi. IBM cho ra đời chiếc PC (máy tính cá nhân) đầu tiên năm 1981, đây là dòng máy tính mày chúng ta dùng phổ biến ngày nay. Ngày 13/11/1990 Tim Berners-Lee,sau khi thông báo ý tưởng về một mạng World Wide Web, Tim Berners-Lee đã bắt tay ngay vào việc viết trang web đầu tiên. Ngày nay Web được sử dụng ở mọi nơi, việc sử dụng được coi như một khái niệm đồng nghĩa với Internet.Cùng với sự phát triển của các loại máy tính, công nghệ điện tử phát triển với tốc độ cao, người ta cho ra đời nhiều máy móc có những chứcnăng thu thập, lưu trữ, truyền thông tin với dung lượng cao và tốc độ lớn.
Như vậy không phải chỉ có máy tính, nhiều loại máy móc thiết bị đã tham gia vào quá trình xử lý thông tin và những năm gần đây thuật ngữ “công nghệ thông tin” (IT)để chỉ những vấn đề thuộc về lĩnh vực xử lý thông tin được sử dụng phổ biến. 3 Ở Việt Nam, khái niệm công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội". Luật Công nghệ thông tin của Việt Nam năm 2006 đưa ra định nghĩa “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số”. Có thể hiểu công nghệ thông tin bao gồm các kỹ thuật phần cứng, phần mềm, dữ liệu, mạng máy tính và viễn thông được sử dụng để xử lý thông tin.
Luật công nghệ thông tin năm 2006 nhấn mạnh : “Ứng dụng công nghệ thông tin là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” Có thể khẳng định ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là việc sử dụng công nghệ thông tin phục vụ các hoạt động sản xuất, các hoạt động kinh doanh, các hoạt động quản lý của doanh nghiệp nhắm khai thác tối đa các nguồn lực và tối ưuhoá các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp và xã hội. Hệ thống thông tin (HTTT) Hệ thống thông tin (Information System - IS) là một tập hợp các yếu tố có liên quan với nhau cùng làm nhiệm vụ thu thập, xử lý, lưu trữ và truyền đạt thông tin để hỗ trợ việc ra quyết định, phân tích tình hình, lập kế hoạch, điều phối và kiểm soát các hoạt động trong một tổ chức, doanh nghiệp. Hệ thống thông tin có thể chứa thông tin về đối tượng mà doanh nghiệp quan tâm điển hình như các thông tin về con người, thị trường kinh doanh, nơi chốn, sự kiện, hiện tượng và các hoạt động trong phạm vi một cơ quan hay trong môi trường hoạt động. Trong một hệ thống thông tin doanh nghiệp môi trường có thể là khách hàng, nhà cung cấp, các cơ quan quản lý nhà nước, các cổ đông và các đối thủ cạnh tranh.