Chương 1: Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM với việc ứng dụng công nghệ hiện đại Chương 2: Thực trạng ứng dụng công nghệ hiện đại tại Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Ngân hàng Tp.HCM Chương 3: Giải pháp tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại nhằm nâng cao hiệu qua hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Ngân hàng Tp. TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ HIỆN ĐẠI 1.1 Cơ sở lý luận của việc ứng dụng công nghệ hiện đại 1.1 Khái niệm công nghệ hiện đại Cho đến nay đã có nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau về công nghệ tùy theo chỗ đứng, giác độ tiếp cận, mà các cách hiểu cũng khác nhau. Trong tiếng Anh, thuật ngữ Technology được dùng tương đối nhất quán, trong khi đó tiếng Pháp lại dùng nhiều thuật ngữ để diễn đạt một nội dung tương tự như Technique, Technology và tiếng Việt như kỹ thuật, công nghệ nhưng xu hướng chung đều muốn chuẩn hóa theo khái niệm Technology trong tiếng Anh.
Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê chủ biên thì công nghệ là "tổng thể nói chung các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dạng nguyên liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh" [32, tr. Trong Luật Chuyển giao Công nghệ năm 2006 của Việt Nam định nghĩa: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” [7, tr. Luật Khoa học công nghệ Việt Nam thì định nghĩa: "Công nghệ là tập hợp các phương pháp quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm" [6, tr. Theo tác giả Hoàng Đình Phi, khái niệm được sử dụng trong hai văn bản trên mới chỉ thể hiện khái niệm chung chung, chưa thể hiện rõ các yếu tố nội hàm về công nghệ sản xuất, công nghệ dịch vụ và các thành phần cơ bản của một công nghệ.
Loại công nghệ mà không có kết hợp với ít nhiều với phần cứng, phần tri thức và kỹ năng thì rất khó có thể biến các nguồn lực thành sản phẩm. Để có thể nhận diện, phân tích, đánh giá cụ thể về công nghệ, phương trình công nghệ được sử dụng như một công cụ lý thuyết cơ bản để tiếp cận định nghĩa về công nghệ và để 14 z phân tích nhanh mối tương quan của các thành phần công nghệ khác nhau trong cùng một công nghệ hay các hệ thống công nghệ với nhau. Công nghệ Máy, công cụ Tri thức Kỹ năng Technology Machines, Tools Knowledge Skills (T) (M) (K) (S) Hình 1.1: Phương trình công nghệ Thành phần M được hiểu là tất cả các thiết bị phần cứng của công nghệ như máy móc, thiết bị, công cụ,… có gắn hoặc không gắn với đất đai, văn phòng, nhà xưởng, hệ thống sản xuất liên quan trực tiếp tới công nghệ. K được hiểu là tất cả các yếu tố liên quan tới tri thức trong công nghệ, bao gồm nhưng không giới hạn như: thiết kế, bản vẽ, bí quyết sản xuất, quy trình sản xuất, quy trình cung ứng dịch vụ,… S được hiểu là tất cả các kỹ năng liên quan trực tiếp tới việc vận hành công nghệ để làm gia một sản phẩm hay cung ứng một dịch vụ.
Từ căn cứ theo ba nhóm yếu tố hay còn gọi là ba thành phần cấu thành của công nghệ kết hợp với phương trình công nghệ tác giả đã đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là việc sử dụng sáng tạo các loại công cụ, máy móc, tri thức và kỹ năng để biến đổi các yếu tố đầu vào thành sản phẩm hay dịch vụ” [6, tr. Theo tác giả Đỗ Công Tuấn: "Công nghệ ban đầu hiểu như một trình tự, một quy trình thao tác do chủ thể tác động vào đối tượng, về sau này được hiểu với nghĩa rộng hơn nhiều. Công nghệ không còn đơn thuần chỉ được xem như một hệ thống kiến thức về phương pháp, kỹ năng, kinh nghiệm, bí quyết. để vận hành một hệ thống thiết bị phương tiện tương ứng với hệ thống kiến thức đó.
Được coi là công nghệ còn có một tập hợp các yếu tố về nguồn lực con người, nguồn lực quản lý”. “Gồm hai phần: Phần thứ nhất: máy móc, thiết bị, dụng cụ, kết cấu xây dựng, nhà xưởng,. Phần thứ hai: đội ngũ công nhân có sức khỏe, có kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm sản xuất, làm việc có năng suất, các dữ liệu, bản thuyết minh, dự án. mô tả, sáng chế kỹ thuật điều hành sản xuất.
những liên hệ, bố trí, sắp xếp kế hoạch kiểm tra, điều hành nghiên cứu thị trường. 15 z Như vậy có thể nói có ba nghĩa chủ yếu về công nghệ được sử dụng phổ biến hiện nay: Một là: Công nghệ được coi như một bộ phận khoa học ứng dụng, triển khai (tương quan với khoa học cơ bản) trong việc vận dụng các quy luật tự nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người. Hai là: Công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất - kỹ thuật hay đó chính là sự thể hiện cụ thể của các tri thức khoa học đã được vật thể hóa thành các công cụ, các phương tiện kỹ thuật cần cho sản xuất và đời sống. Ba là: Công nghệ bao gồm các phương pháp, các thủ thuật, các kỹ năng có được nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và được sử dụng vào việc sản xuất trong các ngành khác nhau để tạo ra các sản phẩm.
Trong thời đại của cuộc cách mạng khoa học và CNHĐ, khoa học và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí tuệ con người đang giữ vai trò động lực trực tiếp và quyết định sự phát triển của công nghệ nói riêng và xã hội nói chung, thì quan niệm về công nghệ, các thành phần cấu trúc của nó cũng có sự mở rộng và phát triển. Một công nghệ hoàn chỉnh bao giờ cũng chứa đựng phần cứng và phần mềm. Phần cứng của công nghệ là kỹ thuật - đã được nghiên cứu nhiều, và đã được thừa nhận rộng rãi. Nhưng trong việc mở rộng hiểu biết về công nghệ chính là ở yếu tố phần mềm, bao gồm các yếu tố con người, TT và tổ chức.
Như vậy, cấu trúc của công nghệ bao gồm bốn thành tố cơ bản đó là: - Thành phần trang thiết bị: Gồm các thiết bị máy móc, công cụ, nhà xưởng. - Thành phần con người: Gồm kỹ năng, tay nghề liên quan tới kinh nghiệm nghề nghiệp của từng người hoặc nhóm người. - Thành phần TT liên quan đến các bí quyết, các quy trình, các phương pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế. - Thành phần tổ chức thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp, điều phối, quản lý và tiếp thị,… 16 z Trong các thành phần trên phần trang thiết bị chính là xương sống, cốt lõi của hoạt động chuyển hóa, do con người lắp đặt và vận hành.
Thành phần con người đóng vai trò trung tâm, là chìa khóa của hoạt động sản xuất, nếu nguồn nhân lực được tổ chức tốt, được trang bị TT tốt và kỹ năng đầy đủ sẽ làm cho thành phần trang thiết bị trở nên hiệu quả. Thành phần TT là cơ sở hướng dẫn người lao động vận hành thiết bị đưa ra các quyết định nó phụ thuộc vào việc thực hiện và tuân thủ theo hướng dẫn, theo bí quyết do thành phần TT cung cấp. Thành phần tổ chức có nhiệm vụ liên kết các thành phần nêu trên, kích thích người lao động để nâng cao hiệu qủa của hoạt động. CNHĐ (modern technology) trong nhiều trường hợp có thể được hiểu là công nghệ tiên tiến theo các giới hạn và ứng dụng.
Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 của Việt Nam có quy định chung rằng “công nghệ tiên tiến là công nghệ hàng đầu, có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ hiện có”, nhưng không nói rõ là phải so sánh với công nghệ hiện có ở Việt Nam hay trên thế giới. Trong công nghệ tiên tiến thường được bố trí theo các quy trình hợp lý hơn, mức độ tự động hóa cao hơn và đặc biệt là có sự đóng góp quan trọng của các bí quyết về thiết kế, chế tạo hay các công thức thực hiện. Phân biệt giữa các khái niệm CNHĐ, công nghệ tiên tiến và công nghệ cao chỉ mang tính chất tương đối nó tùy thuộc vào mục đích chủ quan của tổ chức phân loại, cách thức phân loại, tốc độ phát triển của công nghệ và các giới hạn về địa lý và lịch sử,… CNHĐ trong một thời điểm, địa điểm nào đó là công nghệ tiên tiến, công nghệ cao. Theo quan điểm của Chính phủ Việt Nam và Bộ Khoa học và Công nghệ, căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, căn cứ theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2008 và đề nghị của Bộ Khoa học và Công nghệ, Chính phủ đã ban hành quyết định số 49/2010/QĐ-TTg ngày 19/7/2010 về việc phê duyệt danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển.
17 z Như vậy CNHĐ là công nghệ thuộc thời đại ngày nay, có tính chất tinh vi trong trang bị máy móc hiện đại của nền công nghiệp hiện đại. Hiện đại ở đây được hiểu là trình độ của những nước tiên tiến trên thế giới. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ: Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì "khoa học là hệ thống tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực" [32, tr. Theo từ điển Oxford English: Khoa học là tri thức hay hệ thống tri thức thể hiện sự hiểu biết của con người về cấu trúc và hành vi của tự nhiên và xã hội, mà dựa trên cơ sở đó chúng ta có thể chứng minh được các sự vật hiện tượng bằng công thức và thử nghiệm.
Mục đích của khoa học và công nghệ là nhằm phát triển tối ưu các nguồn lực nhằm phục vụ xã hội con người.