phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: - Chƣơng 1 : Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng câu đố trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. - Chƣơng 2: Một số biện pháp sử dụng ngân hàng câu đố để dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học. - Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT 1.
Giới thuyết về câu đố và phân loại câu đố 1. Khái niệm câu đố Câu đố là một thể loại của văn học dân gian không đơn thuần là hiện tƣợng ngôn ngữ, nó cũng không phải là một tác phẩm có các yếu tố đƣợc sắp xếp theo bố cục, diễn biến nhất định nhằm thể hiện một tƣ tƣởng chủ đạo nào đó. Nhƣng mỗi câu đố đều có một nội dung hoàn chỉnh, đƣợc thể hiện bằng một thứ nghệ thuật riêng. Theo Aristôt định nghĩa : ―Câu đố là một kiểu ẩn dụ hay‖ và coi cái hay đặc biệt của câu đố ở chỗ‖ trong khi nói về cái tồn tại thực tế, câu đố đồng thời kết hợp với cả cái hoàn toàn không thể có đƣợc‖ .Về phía các nhà nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam, quan niệm câu đố cũng rất đa dạng.
Theo tác giả Vũ Ngọc Phan:‖ Câu đố là một loại hình sáng tác phản ánh các sự vật, hiện tƣợng của thế giới khách quan theo lối nói chệch‖ ( nói một đằng hiểu một nẻo). Theo tác giả Triều Nguyên : ― Câu đố là một thể loại văn học dân gian, gồm hai bộ phận, bộ phận lời đố và bộ phận lời giải vật đố bằng văn vần, nhằm miêu tả vật đố một cách xác thực, hợp lý nhƣng làm lạ hóa để khó đoán nhận lời giải nêu tên vật đố, là những sự vật, hiện tƣợng phổ biến, ai cũng từng biết, từng hay‖ .S Nguyễn Văn Trung, quan niệm về câu đố của tác giả dựa trên hai mặt: mặt cấu tạo và mặt xã hội. Về mặt cấu tạo, câu đố có cấu trúc của một đối thoại gồm hai phần: lời đố và lời giải. Theo từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học thì ― Câu đố là câu văn vần mô tả ngƣời, vật, hiện tƣợng một cách lắt léo hoặc úp mở, dùng để đố nhau.‖ 9 Khái niệm câu đố mới trong sách Giáo khoa Tiếng Việt ở Tiểu học thì: ― Câu đố mới là câu văn vần miêu tả ngƣời, vật, hiện tƣợng một cách lắt léo,mô tả một cách xác thực, gần gũi với học sinh Tiểu học do một số nhà biên soạn sách soạn nhằm phát triển tƣ duy của trẻ, làm nền tảng cho việc học câu đố dân gian sau này‖.
Nhƣ vậy, có rất nhiều định nghĩa về câu đố, nhƣng chung quy lại, câu đố là lời nói có tính nghệ thuật, mô tả sự vật, hiện tƣợng bằng lối nói ám chỉ, giấu không cho biết sự vật, hiện tƣợng mà để cho ngƣời đọc tự đoán ra. Đặc trưng của câu đố 1. Câu đố là một trò chơi trí tuệ bằng ngôn từ a) Câu đố cung cấp cho con ngƣời vốn tri thức phong phú và đa dạng về thế giới khách quan Câu đố là một bộ bách khoa toàn thƣ trong đó có rất nhiều khách thể đƣợc nói đến. Về thế giới động thực vật, câu đố đã cung cấp cho chúng ta một vốn hiểu biết vô cùng phong phú, đa dạng, vƣợt khỏi phạm vi tiếp xúc hàng ngày của bất kì một ngƣời nào trong chúng ta.
Đây là một thế mạnh của câu đố mà các thể loại khác không có đƣợc.Cả câu đố và tục ngữ đều có đặc điểm giống nhau là đều ngắn gọn, giàu vần điệu, hình ảnh, nhằm đúc rút kinh nghiệm , truyền bá tri thức. Song tục ngữ thiên về đúc kết kinh nghiệm,nêu lên những chân lý phổ biến, những tri thức thực tiễn đã đƣợc nhiều ngƣời thừa nhận,còn câu đố thƣờng nêu lên những thuộc tính, những đặc điểm của từng sự vật, hiện tƣợng trong thế giới khách quan bằng một phƣơng pháp miêu tả riêng biệt của nó. Ví dụ: Cùng nói về hạt mƣa: Tục ngữ : ― Trời nắng tốt dƣa, trời mƣa tốt lúa‖ Câu đố: ― Không gõ mà kêu, không khều mà rụng‖ ( Sấm và mưa) Câu tục ngữ trên đã sử dụng hình thức nhận xét khái quát về tác dụng của hạt mƣa còn câu đố trên lại nêu lên đặc điểm của hạt mƣa. 10 Hay, cùng là bó mạ, khi thì về tên gọi: " Vừa đánh vừa trói Bị đói thâu đêm Sáng mai chặt đầu Lại đặt tên khác" Khi thì đƣợc nêu đặc điểm về hình dáng: " Vừa bằng thằng bé lên ba Thắt lƣng con cón chạy ra ngoài đồng" Khi thì lại nói về sức sống: " Chặt đuôi, xâu hông, bỏ xuống sông vẫn sống" Câu đố còn đem đến cho chúng ta một khía cạnh nữa đó chính là tính sinh động của nó.
Thế giới sự vật, hiện tƣợng trong câu đố trở nên có hồn,các sự vật, hiện tƣợng đó đều mang một màu sắc mới, sinh động nhƣng cũng rất chân thực. Vì vậy, thế giới sự vật, hiện tƣợng trong câu đố không hiện lên một cách cô lập, tĩnh tại mà luôn luôn có sự vận động và phát triển. Nếu nhƣ thế giới sự vật, hiện tƣợng này đến với trẻ em thì các em không chỉ đƣợc làm giàu về nhận thức mà còn đƣợc làm phong phú về tâm hồn. b) Câu đố tạo cho con ngƣời một khả năng suy luận logic và tƣởng tƣợng Nếu nhƣ ca dao dân ca giúp cho tâm hồn con ngƣời bay bổng, những phán đoán logic nhiều khi không cần thiết thì câu đố đòi hỏi một sự suy luận khách quan có căn cứ.
Ngƣời giải đố phải biện minh căn cứ của mình.Quá trình tìm ra vật đố lời giải là quá trình vận động của tƣ duy logic kết hợp với tƣ duy hình tƣợng. Tƣ duy logic đi từ hình ảnh để so sánh, đối chiếu và tìm ra vật đố. Tƣ duy hình tƣợng theo chiều ngƣợc lại, cố hình dung vật đố gần với hình ảnh, hình tƣợng. Đây là sự phối hợp tuyệt vời nhất để con ngƣời đặc biệt là trẻ em có đƣợc một bộ não phát triển toàn diện.
11 Ví dụ: Cùng nói về hạt mƣa: Ca dao : ― Thân em nhƣ hạt mƣa rào Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vƣờn hoa Thân em nhƣ hạt mƣa sa Hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày‖ Câu đố: ― Không gõ mà kêu, không khều mà rụng‖ ( Sấm và mưa) Câu ca dao trên đã mƣợn hình ảnh của hạt mƣa để làm phƣơng tiện bộc lộ nỗi niềm tâm sự và phản ánh thân phận của ngƣời con gái trong xã hội cũ còn câu đố trên lại nêu lên đặc điểm của hạt mƣa. Ngay trong hát đố, ca dao không đòi hỏi một câu trả lời thật đúng. Câu hát trả lời có thể sai hoàn toàn nhƣng lại đƣợc công nhận là đúng từ một phƣơng diện khác. Ví dụ: - ―Đố anh biết đá mấy hòn Núi cao mấy ngọn, trăng tròn mấy đêm? - Đá kia chỉ có một hòn Núi cao một ngọn, trăng tròn đêm nay‖.
Xét theo logic, đá không chỉ một hòn, núi cao không chỉ một ngọn, nhƣng từ phƣơng diện tình cảm thì số một ở đây lại chấp nhận đƣợc vì đó là con số của tình yêu yêu nhau chỉ có một lần, chỉ có một tình yêu duy nhất đƣợc bộc lộ, trăng tròn trong tâm tƣởng chứ chƣa tròn ngoài đời thực. Câu đố đòi hỏi con ngƣời phải khám phá về một sự vật hiện tƣợng chứ không chỉ dừng lại ở sự tiếp nhận đơn thuần. Bởi lẽ, nếu không giải đố thì không hiểu đƣợc câu đố, do đó chỉ khi nào giải đố xong thì con ngƣời mới hoàn thành khâu tiếp nhận qua đó sự vận động và tƣ duy đƣợc phát triển. Câu đố đòi hỏi một sự suy luận khách quan có căn cứ.
Ngƣời giải đố phải biện minh căn cứ của mình. Quá trình tìm ra vật đố lời giải là quá trình vận động của tƣ duy logic kết hợp với tƣ duy hình tƣợng. Tƣ duy logic đi từ hình ảnh để 12 so sánh, đối chiếu và tìm ra vật đố. Tƣ duy hình tƣợng theo chiều ngƣợc lại, cố hình dung vật đố gần với hình ảnh, hình tƣợng.
Nhƣ vậy, câu đố vừa là mục đích, vừa là phƣơng tiện phát triển nhận thức, tƣ duy con ngƣời. Mỗi lần giải đố là mỗi lần con ngƣời phải tiến hành một loạt các hoạt động tƣ duy và mỗi khi giải đƣợc câu đố, con ngƣời lại có thêm một nhận thức mới. Đối tƣợng nhận thức chủ yếu của câu đố là trẻ em. Đƣa câu đố đến cho trẻ em là cách tốt để chúng có điều kiện phát triển nhanh về trí tuệ.
Câu đố là một bài toán đặc biệt Câu đố đƣợc ví nhƣ " bài toán bằng văn học", đƣợc thể hiện qua yếu tố dữ kiện và lời giải. Dữ kiện là những yếu tố cho trƣớc có thể gần, có thể xa so với đặc điểm của vật đố nhƣng luôn bảo đảm hợp lí để có thể giải đố đƣợc. Những đặc điểm khác nhau đó có khi đƣợc thể hiện đồng thời, có khi chỉ là một trong số đó.Với hát đố không cần một câu trả lời chính xác, không lấy mục đích giải đố làm trọng. Ngƣời giải có thể đƣa ra những lời giải bâng quơ, có thể tự do đi chệch hƣớng của ngƣời đố để nói về việc khác.
Ví dụ: - Đố: Trong chùa chi chua hơn chanh Chi vàng hơn nghệ, chi xanh hơn chàm? - Giải: Trong chùa khế chua hơn chanh Anh nhớ em vàng hơn nghệ, anh sầu xanh hơn chàm. Bản thân lời đố trong ví dụ trên không tạo ra dữ kiện để hƣớng tới một vật cụ thể. Vì thế, ngƣời giải có thể trả lời tự do theo của mình. Câu đố thì khác, nó không phải phƣơng tiện để trao đổi tâm tình.
Điều đáng quan tâm trong câu đố là tìm đƣợc lời giải hợp lí. Câu đố giống nhƣ một bài toán có thể chỉ có một đáp số, cũng có thể có một vài ba đáp số tƣơng đƣơng, phù hợp với những dữ kiện đã nêu. Thêm vào đó, đối tƣợng mà hát đố hƣớng tới là ngƣời lớn, còn đối tƣợng mà câu đố hƣớng tới là trẻ em. Mục đích của câu đố 13 là phát triển tƣ duy cho các em.
Câu đố có sức hấp dẫn đặc biệt, kích thích trí tò mò ở trẻ em, làm cho các em say mê trong việc tìm ra lời giải đáp.Ở câu đố, ngƣời giải không thể lồng chủ quan vào đƣợc mà buộc phải tƣ duy theo các dữ kiện đã cho để tìm ra câu đố.