Chương 1. Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương 2. Tổng quan nghiên cứu Chương 3. Cơ sở lý luận Chương 4.
Kết quả và đánh giá Chương 5: Giải pháp cho doanh nghiệp xuất khẩu may sang vương quốc Anh. 10 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Do tính phổ biến và tầm quan trọng to lớn của nó trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, một lượng lớn nghiên cứu liên quan đến Hiệp định thương mại tự do đã được tiến hành nhằm mục đích đánh giá tác động của một thỏa thuận với một ngành cụ thể hoặc đánh giá các cơ hội và thách thức khi một thỏa thuận được ký kế. Về mặt khu vực, các nước châu Á có khả năng là những nước được lựa chọn nhiều nhất để khám phá.
(Kawasaki, 2004) khám phá tác động của các Hiệp định thương mại tự do ở châu Á và có quan điểm khác với lý thuyết thông thường cho rằng các quốc gia phát triển như Nhật Bản sẽ thu được vốn và công nghệ trong thương mại và sản xuất trong khi các nền kinh tế đang phát triển, bao gồm các nước ASEAN, sẽ được hưởng lợi từ các ngành thâm dụng lao động. Thay vào đó, ông tuyên bố rằng tác động của một FTA khu vực có xu hướng phụ thuộc vào cấu trúc thương mại và mức độ tự do hóa nhập khẩu theo từng ngành. Thảo luận về cùng một chủ đề nhưng với các quốc gia mẫu khác nhau và với dữ liệu của các thời điểm khác nhau, Okabe (2015) ước tính tác động của các FTA khu vực, đặc biệt là ASEAN+1, bằng cách sử dụng dữ liệu thương mại theo ngành và nhận thấy rằng mỗi FTA đều đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng mạng lưới sản xuất và bán hàng hiện có sang các quốc gia đang phát triển mới hơn. Để chứng minh quan điểm của mình, ông đưa ra ví dụ về Khu vực Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA), khuyến khích thương mại trong các nguồn cung ứng và hàng hóa công nghiệp của các thành viên ASEAN mới nổi như Việt Nam và Campuchia.
Các khu vực khác như Châu Phi cũng được nghiên cứu. Mutrap (2010) đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do đối với kinh tế Việt Nam, Báo cáo nhằm giúp Việt Nam xác định các tác động và hiệu quả của một số hiệp định thương mại tự do (FTA) - đặc biệt là ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Ấn Độ, ASEAN - Úc - New Zealand và AFTA - thông qua việc đánh giá những tác động kinh tế xã hội chính đối với Việt Nam trước và sau khi tham gia các hiệp định thương mại ưu đãi này. Nghiên cứu này cũng xem xét đến các hiệp định đã ký với Nhật Bản và Trung Quốc và hiệp định được đề xuất đàm phán với UK, Thổ Nhĩ Kỳ và Chi-lê. Từ đó rút ra những bài học cụ thể cho đàm phán thương mại của Việt Nam trong tương lai.
11 Stefano Inama và các cộng sự (2011), trong nghiên cứu Đánh giá tác động của quy tắc xuất xứ trong các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam, đã phân tích các đặc điểm chính về quy tắc xuất xứ trong các FTA của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, khu vực thương mại tự do không đảm bảo rằng các doanh nghiệp vận dụng được ưu đãi thương mại và cơ hội kinh doanh từ các FTA mà Việt Nam ký kết do không đáp ứng được quy tắc xuất xứ. Sự khác biệt về các yêu cầu xuất xứ đồng nghĩa với những trở ngại khi áp dụng các hiệp định thương mại tự do do nhu cầu thiết lập và vận hành một hệ thống kế toán khác biệt về cách định nghĩa khái niệm, tài khoản, tính chính xác, phạm vi và kiểm soát từ các quy định pháp lý nội bộ. Nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp cần thay đổi hoặc chấp nhận hệ thống kế toán khác hệ thống thông dụng tùy thuộc vào giá trị xuất khẩu hưởng ưu đãi theo FTA so với tổng doanh thu và các chi phí có liên quan và phí tổn phát sinh khi vận hành một hệ thống song song như vậy có thể lớn hơn lợi ích đạt được từ ưu đãi FTA.
Các nghiên cứu và bằng chứng thực tế cho thấy sự gia tăng các bộ quy tắc xuất xứ làm giảm giá trị của tự do hóa thương mại và kỳ vọng về tác động của FTA. Roger và cộng sự (2006), với nghiên cứu The influence of internal and external firm factors on international product adaptation strategy and export performance: A three- country comparison. Trong nghiên cứu này, đã xây dựng mô hình về mối quan hệ chiến lược thích ứng sản phẩm và hiệu suất xuất khẩu bằng cách sử dụng dữ liệu thu thập dữ liệu các nhà quản lý ở Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản. Mô hình nghiên cứu được kết hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp làm tiền đề cho hoạt động xuất khẩu, với chiến lược thích ứng sản phẩm như một biến trung gian chính.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chiến lược thích ứng sản phẩm có liên quan tích cực đến hoạt động xuất khẩu ở cả ba quốc gia. Ngoài ra, sự phụ thuộc vào xuất khẩu, vốn ít được chú ý trong các nghiên cứu trước đây thì trong nghiên cứu lần này, nhóm tác giả cho rằng đây là các nhân tố quan trọng của chiến lược thích ứng sản phẩm. Sự tương đồng giữa thị trường trong nước và thị trường mục tiêu nói chung được coi là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn thị trường xuất khẩu, mối quan hệ với chiến lược thích ứng sản phẩm và hiệu quả xuất khẩu khác nhau giữa ba quốc gia. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra: chiến lược thích ứng với sản phẩm sẽ dẫn đến hiệu quả hoạt động tốt hơn trên thị trường xuất khẩu; các hoạt động tổ chức đổi mới, bao gồm cả giao tiếp tốt hơn, trực tiếp dẫn đến cải thiện hiệu quả hoạt động trên thị trường xuất khẩu.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước Cho đến nay, đã có một số nghiên cứu đề cập đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam Anh trong bối cảnh thực thi UKVFTA, trong đó có đề cập đến thương mại hàng hóa.
Các tài liệu này có thể được chia dưới hai góc độ, bao gồm: (i) Tác động của UKVFTA đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Anh dưới góc độ tổng thể và (ii) Tác động của UKVFTA đến quan hệ thương mại gữa Việt Nam và Anh dưới góc độ ngành. (i) Tác động của UKVFTA đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Anh dưới góc độ tổng thể, có thể kể đến một số công trình như: Bộ Công thương (2020) cung cấp tài liệu bao gồm các thông tin về thị trường Vương Quốc Anh; thực trạng thương mại hàng hóa, dịch vụ giữa hai quốc gia; cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu và các quy định về xuất nhập khẩu giữa hai bên. Trong khi đó, Hà Văn Hội (2021) cho thấy UKVFTA góp phần tạo ra động lực cho Việt Nam nhằm phục hồi kinh tế trong bối cảnh đại dịch Covid- 19 và giúp Việt Nam triển khai hiệu quả chiến lược đa dạng hóa thị trường và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tập trung vào nghiên cứu tác động của UKVFTA đến hoạt đông xuất khẩu của Việt Nam, nhóm tác giả Vũ Thanh Hương và cộng sự (2021), chỉ ra rằng: EVFTA và UKVFTA đều có tác động tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam sang Anh và EU, đặc biệt là ngành dệt may và giày dép.
Trong đó, tác động chuyển hướng mậu dịch lớn hơn tác động tạo lập mậu dịch. Hà Văn Hội (2021) và Ngô Thị Tuyết Mai (2021) thì tập trung vào phân tích và đánh giá về những cơ hội và thách thức do UKVFTA mang lại đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh. Ngoài ra, có một số nghiên cứu sử dụng các chỉ số thương mại quốc tế như: Hoang Cuu Long, Nguyen Thi Thu Phuong (2023), sử dụng chỉ số chuyên môn hóa thương mại (Trade Specialization Index- TSI), chỉ số thương mại nội ngành (Intra-industry trade- IIT); và Đào Đình Minh (2024) đã sử dụng chỉ số chuyên môn hóa xuất khẩu (Export Specialization Index- ESI) và chỉ số chuyên môn hóa thương mại (Trade Specialization Index- TSI). Thông qua nghiên cứu xu hướng thay đổi của các chỉ số trước và sau khi 13 có UKVFTA, các nghiên cứu này cũng cho thấy tác động của UKVFTA đến hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Anh.
Cuối cùng, vì hiệp định UKVFTA mới được ký kết vào cuối năm 2020 và đã có hiệu lực vào năm 2021 nên theo sự hiểu biết của tác giả, đến thời điểm hiện tại, các công trình nghiên cứu sử dụng phân tích định lượng đánh giá về tác động của UKVFTA đến thương mại hàng hóa giữa hai quốc gia còn khá khiêm tốn. Bên cạnh đó, các nghiên cứu này chủ yếu hướng vào phân tích tác động định tính đến toàn bộ nền kinh tế vĩ mô, trong đó tác động đến thương mại chỉ là một nội dung nhỏ. Vì vậy, các nghiên cứu trước đây chưa phân tích được toàn diện và sâu sắc tác động của UKVFTA đến thương mại giữa hai bên, đặc biệt là đối với ngành hàng dệt may 14 CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ LUẬN 3. Giới thiệu chung về Hiệp định UKVFTA 3.
Tóm tắt Hiệp định UKVFTA Với tiền đề thương mại giữa Vương quốc Anh và Việt Nam đã tăng lên trong những năm gần đây. Cả hai bên đã ký Hiệp đinh thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA) nhằm đảm bảo và phát triển mối quan hệ thương mại sau khi Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (Brexit). UKVFTA được chính thức ký kết vào ngày 29/12/2020 tại Anh. Chính phủ hai nước đã hoàn tất thủ tục trong nước cho phép áp dụng tạm thời Hiệp định kể từ ngày 01/01/2021 (theo giờ Việt Nam).
Hiệp định chính thức có hiệu lực từ ngày 01/05/2021, điều này đánh dấu một giai đoạn mới trong quan hệ thương mại và hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Anh. Tổng quan thì UKVFTA là một FTA thế hệ mới với tiêu chuẩn cao và mức độ tự do hóa sâu. Hiệp định được đàm phán dựa trên những nền tảng cam kết từ Hiệp định thương mại tự do Liên minh châu Âu - Việt Nam (EVFTA). Về cơ bản UKVFTA gần như toàn bộ các cam kết về hàng hóa, dịch vụ, mở cửa thị trường đầu tư kế thừa EVFTA với một số điều chỉnh cho phù hợp với mối quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Anh.